Tại hội thảo “Tăng cường năng lực phòng vệ thương mại trong lĩnh vực công nghiệp tại Việt Nam” do Cục Phòng vệ Thương mại, Bộ Công Thương tổ chức ngày 29/10/2025, ông Đặng Xuân Tâm, Chánh Văn phòng Cục Phòng vệ Thương mại, cho rằng hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng mở ra cơ hội xuất khẩu rộng lớn, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất toàn cầu, nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức sống còn từ sự gia tăng của các vụ kiện phòng vệ thương mại.
Theo thống kê, tính đến cuối tháng 8/2025, hàng hóa Việt Nam đã phải đối mặt với 292 vụ việc phòng vệ thương mại. Trong đó có 160 vụ chống bán phá giá (hơn một nửa tổng số vụ), 33 vụ chống trợ cấp, 59 vụ tự vệ và 40 vụ lẩn tránh thuế. Hoa Kỳ chiếm 26% tổng số vụ việc đối với Việt Nam.
Tính đến hết tháng 10/2025, đã có 297 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại với sản phẩm Việt Nam. Hơn 100 biện pháp phòng vệ thương mại vẫn đang được các nước duy trì và rà soát hàng năm. Các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ đều đã từng đưa hàng hóa Việt Nam vào “tầm ngắm” điều tra.
Bà Nguyễn Hằng Nga, Phó trưởng phòng Phòng xử lý và phòng vệ thương mại nước ngoài, Cục Phòng vệ thương mại, nhận định các quốc gia nhập khẩu, đặc biệt là các nước phát triển, đang ngày càng gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại, gây áp lực lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.
Đáng quan ngại, các vụ kiện có xu hướng ngày càng phức tạp. Cụ thể, cơ quan điều tra các nước liên tục thay đổi và đưa ra những nội dung điều tra mới chưa từng có tiền lệ trước đây, như điều tra trợ cấp xuyên quốc gia- đây là thuật ngữ mới. Trong năm 2024, lần đầu tiên Hoa Kỳ đã điều tra trợ cấp xuyên quốc gia đối với Việt Nam trong vụ pin năng lượng mặt trời. Kể từ đó, chương trình này đã được đưa ra đối với Việt Nam trong 4 vụ điều tra trợ cấp tiếp theo.
Điều tra định giá thấp tiền tệ, chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng bị coi là một chương trình trợ cấp. Điều tra kinh tế phi thị trường theo ngành: một số ngành cụ thể của Việt Nam, ví dụ như ngành thép, liên tục bị các nước như Canada, Mexico và Brazil điều tra về yếu tố kinh tế phi thị trường.
Đáng lưu ý, các nước thường điều tra đồng thời nhiều biện pháp đối với một mặt hàng. Ví dụ, sản phẩm nhôm ép của Việt Nam từng bị điều tra chống lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại, sau đó tiếp tục bị điều tra chống bán phá giá. Pin mặt trời là một ví dụ khác khi bị điều tra tự vệ toàn cầu, chống lẩn tránh thuế, sau đó là điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp.
Không chỉ vậy, phạm vi điều tra ngày càng mở rộng. Thay vì chỉ tập trung vào các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như thủy sản, dệt may, da giày, thì hiện nay ngay cả những mặt hàng có kim ngạch rất nhỏ (chỉ dưới 10 triệu USD) cũng bị điều tra, như vỏ viên nhộng, túi giấy, đinh thép hay sợi đúc. "Điều này cho thấy bất cứ mặt hàng nào cũng có thể bị điều tra, chứ không chỉ riêng những mặt hàng lớn nữa", bà Nga cảnh báo.
Ngoài ra, cơ quan điều tra liên tục áp đặt những yêu cầu rất khó, đòi hỏi những thông tin chi tiết mà doanh nghiệp không có sẵn, cần thời gian tổng hợp, thậm chí là những thông tin rất nhạy cảm…
Thực tế cho thấy phòng vệ thương mại vừa là thách thức, vừa là cơ hội. Thách thức này đặt ra một yêu cầu cho các doanh nghiệp phải có một chiến lược sản xuất kinh doanh hợp lý. Ông Đặng Xuân Tâm nhận định: “Việc nâng cao năng lực phòng vệ thương mại đã trở thành yêu cầu cấp thiết, mang tính sống còn đối với các doanh nghiệp Việt Nam”.
Để ứng phó, theo bà Nga, doanh nghiệp cần tập trung vào ba chiến lược cốt lõi:
Thứ nhất, đa dạng hóa thị trường và nguồn cung. Chiến lược này còn gọi là "không nên đặt hết trứng vào một giỏ". Thị trường đầu ra cần đa dạng hóa sản phẩm và thị trường xuất khẩu, tránh tập trung quá nhiều vào một thị trường thường xuyên điều tra phòng vệ thương mại.
Ví dụ điển hình là ngành mật ong, khi hơn 90% xuất khẩu vào Hoa Kỳ và sau đó bị áp mức thuế chống bán phá giá rất cao (100-150% qua rà soát hành chính lần hai), khiến việc xuất khẩu gần như bị chặn đứng.
“Ngay từ đầu, chúng ta nên dự trù cho mình những thị trường dự phòng, hoặc là những sản phẩm dự phòng, để nếu sản phẩm bị áp thuế, chúng ta có thể đổi ngay sang một mặt hàng khác hoặc một thị trường khác”, bà Nga khuyến nghị.
Đồng thời, doanh nghiệp cần đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu đầu vào. Sự phụ thuộc cao vào nguyên liệu nhập khẩu từ một số thị trường bị áp thuế nhiều như Trung Quốc làm tăng khả năng bị điều tra chống lẩn tránh thuế.
Thứ hai, chuẩn bị nguồn lực tài chính và nhân sự chuyên trách phòng vệ thương mại.
Bà Nga cho rằng chi phí theo đuổi một vụ việc phòng vệ thương mại rất lớn. Chi phí thuê luật sư, soạn thảo bản trả lời, thuê phiên dịch, tham gia thẩm tra, hay thậm chí chi phí đi sang nước ngoài tham dự phiên điều trần, đều cần được dự trù. Một vụ kiện ở Hoa Kỳ có thể tốn trung bình khoảng 13 tỷ đồng chỉ riêng chi phí thuê luật sư. Doanh nghiệp cần thành lập quỹ dự phòng để có nguồn tài chính nhất định khi một vụ việc xảy ra.
Cùng với đó, doanh nghiệp nên chuẩn bị đội ngũ nhân lực chuyên trách về phòng vệ thương mại trong ban pháp chế hoặc phòng kinh doanh xuất nhập khẩu.
Thứ ba, minh bạch hóa hệ thống sổ sách và truy xuất nguồn gốc. Các doanh nghiệp cần phải chuẩn bị sẵn một hệ thống sổ sách kế toán rõ ràng, minh bạch và có một hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm rất rõ ràng.
"Hệ thống kế toán phải rõ ràng để ngay lập tức lấy được những nguồn thông tin về chi phí sản xuất, xuất khẩu theo yêu cầu của cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra sẽ sang thẩm tra hồ sơ sổ sách kế toán để xem có khớp với con số đã khai báo không. Nếu hồ sơ không rõ ràng, có thể dẫn đến sai lệch thông tin, bị coi là không hợp tác và bị áp mức thuế rất cao", bà Nga cảnh báo.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc nguyên liệu của sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp ứng phó khi bị điều tra chống lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại hay gian lận xuất xứ, những xu hướng đang gia tăng mạnh mẽ.
Bên cạnh việc duy trì tăng trưởng sản xuất nông, lâm, thủy sản, 6 tháng đầu năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình ban hành 36 văn bản quy phạm pháp luật, cắt giảm 36,25% điều kiện kinh doanh và đưa hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản vào hoạt động. Những kết quả này tạo nền tảng để ngành tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng trong nửa cuối năm...
Chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng sẽ chính thức có hiệu lực, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai các dự án carbon rừng và phát triển thị trường tín chỉ carbon. Để bảo đảm triển khai đồng bộ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang khẩn trương hoàn thiện Thông tư hướng dẫn phương pháp định giá carbon rừng, dự kiến ban hành trước ngày 15/7/2026...
Chiến lược phát triển đến năm 2050 và Kế hoạch 5 năm 2026–2030 đang đặt Petrovietnam trước yêu cầu chuyển mạnh từ xây dựng chiến lược sang nâng cao năng lực thực thi trong toàn hệ thống.
Hiện nhiều cấu phần trong một thiết bị bay không người lái UAV đã được doanh nghiệp Việt Nam tự chủ sản xuất. Tuy nhiên, động lực để phát triển UAV nói riêng và kinh tế tầm thấp nói chung còn đang thiếu. Mở thế chế để quản lý thiết bị bay không người lái, đưa UAV vào từng ngành kinh tế trọng điểm là điều kiện tiên quyết phát triển kinh tế tầm thấp trong thời gian tới.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Chính phủ tiếp tục duy trì mô hình quản lý tập trung đối với bốn vườn quốc gia liên tỉnh, gồm: Cúc Phương, Tam Đảo, Bạch Mã và Yok Đôn, đồng thời thực hiện chuyển giao Vườn quốc gia Cát Tiên về địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Hiện nhiều cấu phần trong một thiết bị bay không người lái UAV đã được doanh nghiệp Việt Nam tự chủ sản xuất. Tuy nhiên, động lực để phát triển UAV nói riêng và kinh tế tầm thấp nói chung còn đang thiếu. Mở thế chế để quản lý thiết bị bay không người lái, đưa UAV vào từng ngành kinh tế trọng điểm là điều kiện tiên quyết phát triển kinh tế tầm thấp trong thời gian tới.