Phát biểu tại hội thảo, TS. Phạm Sỹ Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược Trung Quốc (CESS), cho biết kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy chuyển đổi giao thông xanh không phải là quá trình “thay thế ngay lập tức”, mà là một lộ trình chính sách được thiết kế bài bản, có thứ tự ưu tiên và triển khai đồng bộ theo từng giai đoạn.
Theo ông, điểm cốt lõi nằm ở việc xây dựng hệ thống chính sách nhiều tầng, kết hợp giữa cải thiện phương tiện hiện hữu và phát triển phương tiện mới. Trên cơ sở đó, quá trình chuyển đổi được tổ chức theo mô hình “ba tầng nấc”. Trước hết là nâng cao hiệu suất, siết chặt tiêu chuẩn khí thải đối với phương tiện sử dụng động cơ đốt trong. Tiếp theo là thúc đẩy chuyển đổi sang phương tiện năng lượng mới. Cuối cùng là phát triển hệ thống giao thông thông minh, hướng tới mô hình dịch vụ di chuyển.
Giám đốc CESS nhấn mạnh việc cần triển khai song song các lộ trình, không loại bỏ ngay phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch mà từng bước cải thiện, đồng thời thúc đẩy phương tiện mới. Cùng với đó là việc ban hành quy định cụ thể theo từng giai đoạn, gắn với mốc thời gian rõ ràng.
Dẫn kinh nghiệm Trung Quốc, vị chuyên gia này cho biết một số nhóm phương tiện được đặt thời hạn chuyển đổi trong khoảng 5 năm, đi kèm với việc áp dụng tiêu chuẩn khí thải cao và các biện pháp quản lý phi tài chính như dán nhãn phương tiện, kiểm soát lưu thông, quản lý đỗ xe.
Một điểm đáng chú ý khác là cách tiếp cận phân tầng đối tượng. Theo đó, xe công và xe dịch vụ đô thị được ưu tiên chuyển đổi hoàn toàn sang xe năng lượng mới trong thời gian sớm nhất. Đối với xe cá nhân, chính sách định hướng lựa chọn công nghệ, ưu tiên xe điện thuần, xe pin nhiên liệu và hybrid, đồng thời hạn chế các dòng hybrid cắm sạc nếu hiệu quả môi trường chưa rõ ràng.
Bên cạnh đó, phạm vi áp dụng chính sách cũng được điều chỉnh linh hoạt theo không gian đô thị. Các phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch bị hạn chế trước tại khu vực trung tâm, trong khi phương tiện điện được khuyến khích mở rộng từ khu vực ven đô vào nội đô.
Theo TS. Phạm Sỹ Thành, yếu tố quyết định hiệu quả của quá trình chuyển đổi là sự đồng bộ giữa chính sách và hạ tầng. Việc phát triển phương tiện điện chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đi kèm hệ thống trạm sạc đầy đủ, tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất và quy hoạch dài hạn từ 15–20 năm. Đồng thời, nguồn lực cần được phân bổ theo từng giai đoạn, tránh dàn trải; chính sách tài chính như trợ cấp, miễn giảm thuế phải đi cùng với các công cụ phi tài chính như quy chuẩn kỹ thuật, quy hoạch đô thị và cơ chế cấp phép lưu thông.
TS. Phạm Sỹ Thành cho rằng một chiến lược chuyển đổi hiệu quả cần hội đủ 5 yếu tố gồm quy hoạch tổng thể cấp quốc gia, lộ trình dài hạn, mục tiêu giảm phát thải rõ ràng, sự sẵn sàng về thể chế – tài chính – hạ tầng – nhận thức, và lựa chọn đúng nhóm phương tiện ưu tiên.
Ở góc độ chính sách công nghiệp, bà Nguyễn Thị Xuân Thúy, giảng viên Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), chuyên gia tư vấn của UNIDO, nhấn mạnh chuyển đổi giao thông xanh cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển ngành ô tô – xe máy trong nước. Kinh nghiệm từ Nhật Bản và Đức cho thấy các quốc gia này duy trì cách tiếp cận thận trọng trong quá trình điện hóa nhằm bảo vệ năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp nội địa và việc làm.
Bà Xuân dẫn trường hợp Singapore như một ví dụ về cách tiếp cận khác, khi tập trung vào quản lý hiệu quả việc sử dụng phương tiện thông qua hệ thống giao thông thông minh, thay vì chỉ hạn chế quyền sở hữu xe cá nhân. Cách tiếp cận này giúp tối ưu hóa hạ tầng, giảm ùn tắc và kiểm soát phát thải hiệu quả hơn.
Phát biểu tại hội thảo, bà Phạm Thị Thanh Hà, Chủ tịch Hội Truyền thông thành phố Hà Nội, cho biết ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nghiêm trọng tại nhiều đô thị lớn, do đó việc xây dựng chính sách giảm phát thải trong lĩnh vực giao thông là yêu cầu cấp thiết. Trong đó, chuyển đổi giao thông xanh được xác định là giải pháp mang tính dài hạn, song hành với phát triển vận tải công cộng.
Các ý kiến tại hội thảo thống nhất rằng phát triển giao thông xanh đang trở thành xu hướng tất yếu trên thế giới. Tuy nhiên, việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế cần được nghiên cứu, điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, hạ tầng và định hướng phát triển của Việt Nam, nhằm bảo đảm lộ trình chuyển đổi khả thi, hiệu quả và bền vững trong dài hạn.




Sau gần 25 năm phát triển Khu Công nghệ cao, TP.Hồ Chí Minh đang bước sang giai đoạn mới: từ thu hút nhà máy công nghệ cao sang xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ..
Bộ Xây dựng vừa có văn bản gửi Bộ Tài chính về kết quả rà soát Dự án cao tốc Bảo Hà - Lai Châu, trong đó thống nhất chủ trương đầu tư công, đồng thời đề xuất nghiên cứu phương án phân kỳ đầu tư thay vì triển khai toàn tuyến ngay từ đầu...
Cục Đường bộ Việt Nam vừa trình Bộ Xây dựng phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó đề xuất bổ sung nhiều tuyến cao tốc mới và điều chỉnh tiến độ đầu tư một số dự án nhằm tăng cường kết nối liên vùng, mở rộng không gian phát triển...
Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh đang lấy ý kiến người dân về phương án đặt tên các tuyến và nhà ga metro, hướng tới xây dựng hệ thống nhận diện thống nhất, dễ nhớ, hạn chế nhầm lẫn khi mạng lưới đường sắt đô thị tiếp tục mở rộng.
Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông báo số 375/TB-BXD công bố danh sách các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc lĩnh vực hàng không dân dụng phải thực hiện kê khai giá kể từ ngày 1/7/2026...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Việt Nam đang từng bước làm chủ công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ; phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư, hướng đến phục vụ cộng đồng, người bệnh... Đó là hai trong số rất nhiều hạng mục mà Việt Nam đang nỗ lực trong công cuộc xây dựng nền công nghiệp hạt nhân hiện đại.