Trong khuôn khổ Dự án “Chuyển đổi Nông nghiệp sinh thái và Hệ thống thực phẩm an toàn ở Việt Nam (ASSET)”, ngày 28/10/2025 tại Hà Nội, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường phối hợp cùng các đối tác quốc tế tổ chức Hội thảo “Chuyển đổi nông nghiệp sinh thái và hệ thống thực phẩm: từ thực tiễn đến chính sách”.
Sự kiện có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học và nhà quản lý, nhằm chia sẻ kinh nghiệm và thảo luận giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp sinh thái – hướng đi bền vững của nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.
Phát biểu mở đầu hội thảo, TS. Hoàng Vũ Quang, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, nhấn mạnh: “Nông nghiệp sinh thái đã được xác định là một trong những chiến lược phát triển quan trọng của Việt Nam, được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng và Chính phủ”.
Theo ông Quang, các chính sách như Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021–2030 và Kế hoạch hành động quốc gia chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững đến năm 2030 đều đặt trọng tâm vào việc chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp sinh thái.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy thoái tài nguyên ngày càng nghiêm trọng, nông nghiệp sinh thái không chỉ là một xu hướng mà là nhu cầu cấp thiết để đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ môi trường.
Thói quen canh tác truyền thống, thiếu vốn đầu tư ban đầu và thị trường tiêu thụ chưa ổn định vẫn là những rào cản lớn. Do đó, cần có hỗ trợ kỹ thuật và tài chính, khuyến khích học hỏi lẫn nhau giữa các hộ nông dân, đồng thời xây dựng khung chính sách phù hợp để thúc đẩy quá trình chuyển đổi".
Tại hội thảo, ông Nguyễn Quang Tân, Trung tâm Nông Lâm Thế giới (ICRAF) tại Việt Nam, chia sẻ kinh nghiệm từ dự án “Sinh thái nông nghiệp tạo cảnh quan bền vững cho người nghèo ở miền núi phía Bắc” (A4P) do ICRAF và CISDOMA (Viện Tư vấn phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi) thực hiện, với sự tài trợ của Tổ chức Bánh mì cho thế giới (Bread for the World), IFAD (Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp) và DFE (Bộ Giáo dục Vương quốc Anh). Dự án được triển khai tại Trạm Tấu (Yên Bái) và Kim Bôi (Hòa Bình), hướng tới chuyển đổi sinh kế theo hướng sinh thái và bền vững.
Dự án áp dụng các nguyên tắc cốt lõi của nông nghiệp sinh thái như đa dạng sinh học, giảm đầu vào hóa học, bảo vệ sức khỏe đất và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Hàng trăm hộ dân đã tham gia trồng các loại cây bản địa như đào, mận, hồng, ổi, chè Shan, trám, giổi và tre trên tổng diện tích hơn 100 ha.
Một kết quả đáng chú ý là giảm mạnh lượng phân bón hóa học, trong khi năng suất và sinh trưởng của cây trồng vẫn được đảm bảo. Mô hình nông – lâm kết hợp giúp cải thiện cấu trúc đất, tăng độ che phủ và tạo sinh kế bền vững. Bên cạnh đó, dự án còn hỗ trợ xây dựng chuỗi giá trị cho sản phẩm đặc sản địa phương như chè Shan tuyết và khoai sọ nương, thông qua hoạt động tập huấn, xúc tiến thương mại và kết nối thị trường điện tử.
Từ góc độ nghiên cứu chăn nuôi, PGS.TS. Lê Thị Thanh Huyền, Viện Chăn nuôi, cho rằng việc chuyển đổi nông nghiệp theo hướng sinh thái không chỉ là lựa chọn mà là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhu cầu thực phẩm tăng cao.
Bà Huyền giới thiệu mô hình “Trồng cây thức ăn chăn nuôi – Ủ chua – Ủ phân hữu cơ”, được xem là một giải pháp toàn diện giúp giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và tăng giá trị chuỗi sản xuất nông hộ.
Theo các kết quả thực địa, sau ba năm áp dụng mô hình, số lượng trâu bò tại các hộ tham gia tăng trung bình 18%, trong khi các làng đối chứng giảm 25%. Việc sử dụng thức ăn ủ chua và cây họ đậu giúp cải thiện dinh dưỡng cho vật nuôi, đồng thời giảm phát thải methane trong quá trình lên men tiêu hóa.
Đặc biệt, việc sản xuất phân hữu cơ ngay tại trang trại từ chất thải chăn nuôi đã giúp nông dân giảm phụ thuộc vào phân bón hóa học, tăng cường tái chế chất dinh dưỡng và bảo vệ môi trường.
Theo PGS.TS. Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam (PHANO), sản xuất nông nghiệp trong nước đang đối mặt với suy thoái tài nguyên đất và nước nghiêm trọng, trong đó hơn 44% diện tích đất nông nghiệp đã bị thoái hóa. Điều này làm giảm năng suất, tăng chi phí sản xuất và kéo dài quá trình chuyển đổi sang mô hình sinh thái.
Bên cạnh đó, hệ thống thủy lợi hiện nay được thiết kế chủ yếu cho canh tác lúa, chưa đủ linh hoạt để đáp ứng các mô hình canh tác mới như nước mặn – ngọt hỗn hợp; logistics nông sản còn yếu và tổn thất sau thu hoạch cao. Hệ thống dữ liệu phục vụ ra quyết định ở địa phương cũng còn hạn chế.
Nông nghiệp sinh thái không chỉ là sản xuất thực phẩm, mà còn là một cam kết vì tương lai bền vững của cảnh quan và cộng đồng nông thôn Việt Nam. Kết nối sản phẩm sinh thái với thị trường và người tiêu dùng đồng nghĩa với việc “mua lại tương lai của đất, nước và con người”.
Tuy vậy, nông nghiệp sinh thái vẫn mở ra nhiều cơ hội lớn. Việt Nam đang nhận được sự quan tâm mạnh mẽ từ các dự án phát triển quốc tế, đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng, giúp địa phương có thêm cơ hội học hỏi và thử nghiệm mô hình canh tác sinh thái tiên tiến.
Để quá trình chuyển đổi đạt hiệu quả, PGS.TS. Đào Thế Anh đề xuất cần lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời xây dựng kế hoạch hành động cụ thể ở cấp địa phương. Các tỉnh, huyện cần xây dựng sổ tay mời gọi đầu tư vào hệ thống lương thực – thực phẩm sinh thái, phát triển các gói đầu tư ưu tiên theo hệ sinh thái và sản phẩm chủ lực.
"Một hướng đi quan trọng là phát triển thị trường gắn với người tiêu dùng và du lịch. Việc xây dựng thương hiệu vùng, truy xuất nguồn gốc gắn với bản sắc cảnh quan – dinh dưỡng, phát triển chuỗi bán lẻ, ẩm thực, du lịch nông nghiệp, cũng như hợp tác công – tư trong tín dụng xanh và tài chính dựa trên kết quả sẽ là động lực thúc đẩy thị trường nông nghiệp sinh thái", PGS. TS. Đào Thế Anh nhấn mạnh.
FDI không phải là mục tiêu của chính sách phát triển, mà là một trong nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi các nguồn lực quốc gia ngày càng hữu hạn, mọi chính sách ưu đãi, mọi quyết định phân bổ đất đai, hạ tầng, năng lượng hay dữ liệu đều cần hướng đến giá trị dài hạn mà nền kinh tế nhận được...
Sau gần 40 năm mở cửa, FDI vẫn là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khi quy mô nền kinh tế đã thay đổi và các nguồn lực phát triển ngày càng tiệm cận giới hạn, câu hỏi đặt ra lúc này là đã đến lúc nhìn nhận đúng vai trò của FDI trong chiến lược phát triển quốc gia...
Tháng 6/2026, TKV khai thác 3,3 triệu tấn than nguyên khai, nâng sản lượng 6 tháng lên 19,6 triệu tấn. Tuy nhiên, sang tháng 7, Tập đoàn chủ động giảm sản lượng khai thác và tiêu thụ do nhu cầu than cho điện thấp hơn khi bước vào mùa mưa...
Sự tham gia đông đảo của nhiều đoàn doanh nghiệp, nhà nhập khẩu, hiệp hội ngành hàng và các đơn vị logistics Hoa Kỳ, Brazil cùng các đối tác thương mại ở khu vực châu Mỹ tại VIS 2026 cho thấy sự quan tâm rất lớn đối với hàng hóa Việt Nam. Điều này tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn của Việt Nam như một trung tâm cung ứng quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66% vào tổng GDP của cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành nông nghiệp cũng đối mặt với nhiều thách thức cần giải quyết để duy trì đà phát triển bền vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, xung đột vũ trang tại Trung Đông kéo dài tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa, chi phí vận tải và thương mại quốc tế... GDP sáu tháng đầu năm 2026 của nước ta vẫn tăng tới 8,18%. Khu vực 2 là động lực chính cho GDP đạt con số trên.