Trong bối cảnh thị trường chứng khoán bước vào giai đoạn mới, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, phấn đấu trong giai đoạn 2026 - 2030, tổng giá trị vốn huy động qua thị trường chứng khoán đạt khoảng 5,4 triệu tỷ đồng (chưa bao gồm trái phiếu Chính phủ).
Đồng thời, thu hút các doanh nghiệp lớn, dự án dài hạn từng bước dịch chuyển huy động vốn sang thị trường chứng khoán, qua đó đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế.
Trao đổi về vấn đề này trong Talk show Phố Tài chính mới đây, ông Nguyễn Đức Quân Tùng, Tổng Giám đốc, Công ty CP Chứng khoán OCBS đánh giá thị trường chứng khoán là một hạ tầng huy động và phân bổ nguồn vốn cho nền kinh tế, khi hạ tầng này đủ sâu, đủ minh bạch và đủ tin cậy, sẽ trở thành một động lực rất quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Theo ông Tùng, phát triển thị trường vốn không chỉ là một định hướng đúng, mà là điều kiện gần như bắt buộc nếu Việt Nam muốn bước vào giai đoạn tăng trưởng cao hơn và bền vững hơn. Trong nhiều năm qua, tăng trưởng của chúng ta dựa khá lớn vào tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng dù rất quan trọng, nhưng không thể một mình đáp ứng được đầy đủ và toàn bộ nhu cầu vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Và vấn đề hiện nay không phải là giảm vai trò của ngân hàng, mà chúng ta cần chia rõ vai trò hai kênh: thứ nhất là kênh ngân hàng cần làm tốt vai trò tín dụng, còn thị trường vốn phải trở thành kênh huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp.
Với mục tiêu huy động khoảng 5,4 triệu tỷ đồng qua thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2026 - 2030, chưa bao gồm trái phiếu Chính phủ, cho thấy quy mô nhiệm vụ rất lớn.
Nếu làm tốt, thị trường vốn sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn minh bạch hơn, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và đưa dòng vốn vào các lĩnh vực có năng suất cao hơn như hạ tầng, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh.
Có thể nói một cách ngắn gọn rằng thị trường chứng khoán không nên chỉ được nhìn như nơi chúng ta mua bán cổ phiếu. Đây phải là một hạ tầng huy động và phân bổ vốn cho nền kinh tế. Khi hạ tầng này đủ sâu, đủ minh bạch và đủ tin cậy, nó sẽ trở thành một động lực rất quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Đối với dòng vốn ngoại, việc khối ngoại vẫn có giai đoạn bán ròng và nhà đầu tư trong nước hiện tại khá thận trọng cho thấy thị trường không thể chỉ trông chờ vào hiệu ứng nâng hạng. Dòng vốn quốc tế không chỉ nhìn vào phân loại thị trường. Họ nhìn vào chất lượng doanh nghiệp niêm yết, khả năng tiếp cận thị trường, thanh khoản, room nước ngoài, chất lượng công bố thông tin, ổn định vĩ mô và tỷ giá.
Theo ông Tùng có ba nhóm việc cần làm đồng thời. Thứ nhất là tiếp tục nâng chuẩn hạ tầng và vận hành thị trường, đặc biệt là cơ chế giao dịch, thanh toán, xử lý giao dịch lỗi, mô hình global broker và giảm các rào cản tiếp cận cho nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ hai là tăng chất lượng hàng hóa: chúng ta cần có nhiều doanh nghiệp lớn, minh bạch IPO và niêm yết theo chuẩn cao hơn…
Thứ ba là mở rộng chiều sâu sản phẩm, từ ETF, quỹ mở, phái sinh, trái phiếu doanh nghiệp minh bạch đến các thị trường mới như thị trường carbon hay tài sản mã hóa, nhưng phải trong khuôn khổ pháp lý chặt chẽ và được quản trị rủi ro tốt.
Khi đó, thị trường Việt Nam sẽ không chỉ là một “trading market” hấp dẫn trong ngắn hạn, mà tiến dần thành một “capital market” đúng nghĩa, nơi nhà đầu tư có nhiều công cụ để phân bổ vốn, phòng vệ rủi ro và đầu tư dài hạn.
Bài học cho Việt Nam là nâng hạng mở ra cơ hội rất lớn, nhưng đồng thời cũng nâng mặt bằng tiêu chuẩn. Khi nhà đầu tư chuyên nghiệp hơn tham gia sâu hơn, thị trường sẽ không còn dễ dàng. Đó là áp lực tích cực, vì nó buộc tất cả các bên – từ doanh nghiệp, nhà đầu tư và trung gian tài chính - phải chuyên nghiệp hóa ở mức cao nhất để tồn tại!
Nhà đầu tư cá nhân vẫn là lực lượng rất quan trọng của thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, khi thị trường trưởng thành hơn và phân hóa mạnh hơn, cách mà chúng ta đầu tư cũng phải thay đổi. Giai đoạn “mua gì cũng thắng” nếu có, thường không kéo dài. Thị trường càng lớn thì cơ hội vẫn rất nhiều, nhưng sẽ không chia đều cho tất cả mọi người.
"Tôi cho rằng cơ hội trong giai đoạn tới là rất lớn, nhưng cơ hội lớn luôn đi kèm yêu cầu cao hơn. Chúng tôi không chỉ muốn đón đầu cơ hội nâng hạng, mà muốn đóng góp vào việc xây dựng một thị trường vốn Việt Nam sâu hơn, minh bạch hơn và bền vững hơn cho nền kinh tế", ông Tùng nhấn mạnh.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động và thị trường trong nước chịu áp lực cạnh tranh gay gắt, Tổng công ty Máy động lực và Máy Nông nghiệp Việt Nam - CTCP (VEAM) không chỉ duy trì được đà tăng trưởng ổn định mà còn ghi nhận những kết quả đột phá về lợi nhuận, đặc biệt là sự hồi sinh mạnh mẽ của mảng sản xuất ô tô.
Dựa trên các tiêu chí của FTSE và dữ liệu tính đến ngày 30/06/2026, Chứng khoán ACBS ước tính có 19 cổ phiếu đạt tiêu chí chọn lọc của FTSE GEIS, trong đó có 4 cổ phiếu vốn hóa lớn, 1 cổ phiếu vốn hóa vừa, và 14 cổ phiếu vốn hóa nhỏ.
“Bốc hơi” 1,36% (-24,51 điểm) hôm nay, VN-Index chính thức có phiên đóng cửa thấp hơn đáy ngắn hạn đầu tháng 6 vừa qua. Khác phiên chiều qua, thị trường đã không xuất hiện dòng tiền bắt đáy nâng đỡ.
Trong tháng 7, VN-Index nhiều khả năng tiếp tục xu hướng tích lũy quanh vùng 1.860 điểm. Các ngưỡng hỗ trợ cần chú ý gồm 1.800 điểm, và xa hơn là 1.760 điểm.
Nếu tín dụng ngân hàng tiếp tục tăng trưởng 15-16% mỗi năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP thực khoảng 3-5%, chỉ trong vòng 5 năm tới, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam có thể vượt qua Thái Lan và Singapore, trở thành một trong những mức cao nhất châu Á.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...