Theo báo cáo vướng mắc liên quan đến chính sách khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời phản ánh nhanh hiện trạng thực thi Nghị quyết số 68-NQ/TW của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), Việt Nam hiện còn nhiều khoảng trống trong khung pháp lý trong lĩnh vực thiết bị bay không người lái (UAV).
Cụ thể, hiện, Việt Nam chưa có khung pháp lý quốc gia cho phép thí điểm UAV theo cơ chế sandbox. Một số địa phương như TP.HCM đã áp dụng cơ chế đặc thù, tuy nhiên mỗi chuyến bay thử vẫn phải xin phép Cục Tác chiến (Bộ Quốc phòng), đồng thời chưa có quy định cụ thể về phạm vi bay, độ cao, hành lang bay hoặc giới hạn rủi ro. Điều này được cho là chưa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thử nghiệm công nghệ mới.
Bên cạnh đó, mặc dù một số doanh nghiệp UAV đã được Bộ Quốc phòng cấp phép sản xuất, hiện vẫn chưa có khu bay chuyên dụng để thử nghiệm. Phần lớn hoạt động bay thử được thực hiện tại các khu đất trống, ven sông hoặc trong khuôn viên nhà xưởng, thường phải xin phép nhiều cấp, gây khó khăn cho quá trình thử nghiệm và đánh giá an toàn trước khi thương mại hóa sản phẩm.
Liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật, Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 39/2025/TT-BQP về danh mục tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với tàu bay không người lái và phương tiện bay khác. Tuy nhiên, theo phản ánh của doanh nghiệp, hiện chưa có tiêu chuẩn quốc gia cụ thể cho UAV tại Việt Nam; một số tiêu chuẩn quốc tế được viện dẫn đã hết hạn hoặc chưa được phân loại theo từng phân khúc như drone dân dụng, công nghiệp, logistics hoặc an ninh.
Ngoài ra, hiện cũng chưa có cơ chế kiểm thử bắt buộc đối với UAV thương mại trước khi đưa ra thị trường, cũng như chưa có quy trình kiểm định tình trạng bay trước mỗi nhiệm vụ tương tự như đối với tàu bay có người lái. Điều này làm gia tăng rủi ro về an toàn và gây khó khăn trong việc truy trách nhiệm khi xảy ra sự cố.
Trong lĩnh vực đào tạo, dù Nghị định số 288/2025/NĐ-CP quy định về quản lý tàu bay không người lái và cho phép các cơ sở giáo dục đào tạo phi công UAV, song đến nay Bộ Quốc phòng vẫn chưa ban hành thông tư hướng dẫn cụ thể, đồng thời chưa xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức sát hạch, tiêu chuẩn chương trình đào tạo và chuẩn an toàn. Do đó, hệ thống đào tạo và cấp chứng chỉ phi công UAV chưa được hình thành đầy đủ.
Các doanh nghiệp cũng cho biết hiện chưa có quy định cụ thể về việc xác định UAV sản xuất tại Việt Nam, bao gồm các tiêu chí về tỷ lệ nội địa hóa, thiết kế, phần mềm hoặc linh kiện. Đồng thời, cơ chế cấp chứng nhận xuất xứ cho UAV xuất khẩu và quy trình xin phép Bộ Quốc phòng khi xuất khẩu UAV được cho là còn phức tạp, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc mở rộng thị trường.
Ngoài ra, báo cáo cũng nêu việc chưa có quy định về quản lý dữ liệu bay UAV. Cụ thể, chưa có cơ chế bắt buộc ghi nhận và truyền dữ liệu log chuyến bay, chưa có hệ thống giám sát thời gian thực để đối chiếu với tọa độ trong giấy phép bay, cũng như chưa có cơ chế kiểm soát luồng dữ liệu nhằm tránh thất thoát dữ liệu ra nước ngoài. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp đề xuất triển khai hệ thống quản lý và điều phối UAV quốc gia (UTM Việt Nam), trong đó dữ liệu bay được truyền qua mạng viễn thông trong nước và lưu trữ tại máy chủ đặt tại Việt Nam.
Ngoài các vấn đề liên quan đến nghiên cứu và sản xuất, báo cáo cũng phản ánh khó khăn trong việc nhập khẩu linh kiện và thiết bị UAV.
Theo Nghị định số 288/2025/NĐ-CP, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền cấp phép nhập khẩu thiết bị và linh kiện UAV cho doanh nghiệp sau khi có ý kiến của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an. Tuy nhiên, theo phản ánh của doanh nghiệp, quy trình xin cấp phép hiện phải qua nhiều bước và nhiều cơ quan xử lý.
Cụ thể, doanh nghiệp phải nộp hồ sơ tại UBND cấp tỉnh; sau đó hồ sơ được chuyển sang Sở Công Thương, tiếp tục lấy ý kiến của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng; tiếp đến Ban chỉ huy quân sự địa phương tiến hành thẩm định trước khi Sở Công Thương cấp giấy phép nhập khẩu.
Theo quy định, thời hạn xử lý hồ sơ khoảng 11 ngày làm việc nếu đầy đủ giấy tờ. Tuy nhiên, doanh nghiệp cho biết trên thực tế quá trình hoàn tất thủ tục có thể kéo dài nhiều tháng.
Trong bối cảnh nhiều linh kiện UAV hiện vẫn phải nhập khẩu để phục vụ hoạt động lắp ráp và sản xuất trong nước, các doanh nghiệp kiến nghị cần phân loại rõ nhóm linh kiện đầu vào phục vụ sản xuất để áp dụng cơ chế quản lý linh hoạt hơn, tránh làm gián đoạn chuỗi cung ứng và làm tăng chi phí cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng đề xuất xem xét cơ chế quản lý nhập khẩu theo model sản phẩm thay vì theo từng lô hàng, nhằm giảm bớt thủ tục hành chính nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu kiểm soát của cơ quan quản lý.
Một số quy định liên quan đến hoạt động sửa chữa và bảo dưỡng UAV cũng được doanh nghiệp đề nghị xem xét điều chỉnh.
Theo Nghị định số 288/2025/NĐ-CP, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sản xuất, sửa chữa hoặc bảo dưỡng UAV phải có ít nhất ba nhân sự được đào tạo chuyên ngành kỹ thuật hàng không. Tuy nhiên, theo phản ánh của các doanh nghiệp, yêu cầu này chưa phù hợp với thực tiễn phát triển của lĩnh vực UAV.
Trong thực tế, đội ngũ kỹ sư UAV thường xuất thân từ nhiều lĩnh vực kỹ thuật khác nhau như khí động học, công nghệ thông tin, điện – điện tử hoặc cơ điện tử, vốn là các chuyên ngành trực tiếp liên quan đến thiết kế và vận hành UAV.
Ngoài ra, quy định yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật do cơ quan quản lý ban hành để được cấp phép sửa chữa UAV cũng được cho là còn gặp nhiều vướng mắc, trong bối cảnh hệ thống đào tạo chuyên biệt và tiêu chuẩn kỹ thuật trong nước đối với lĩnh vực này chưa hoàn thiện.
Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp kiến nghị sớm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết dưới Nghị định số 288/2025/NĐ-CP để làm rõ các cơ chế liên quan đến sandbox, khu thử nghiệm, đăng kiểm thử nghiệm và tiêu chí sản phẩm UAV “made in Vietnam”.
Đồng thời, các doanh nghiệp cũng đề nghị xây dựng các chính sách hỗ trợ đặc thù cho ngành UAV. Theo Quyết định số 2815/QĐ-TTg về chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay, UAV được xác định là một trong các công nghệ chiến lược quốc gia. Vì vậy, các doanh nghiệp đề xuất xem xét các cơ chế ưu đãi về thuế, tiếp cận đất đai và hỗ trợ tài chính trong giai đoạn đầu để tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước phát triển năng lực sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh.
Qua 5 năm triển khai, Hội thảo Quốc tế về Khởi nghiệp, Tài chính và Đổi mới sáng tạo Việt Nam (VSEFI) đã trở thành sân chơi quốc tế thu hút từ 90% đến 95% diễn giả là các nhà khoa học hàng đầu đến từ hơn 32 quốc gia trên thế giới...
Cục Hàng không đề xuất bổ sung 5 cảng hàng không gồm Gia Bình, Thổ Chu, Vân Phong, Măng Đen và Ninh Bình vào quy hoạch, đồng thời rút Cảng hàng không Biên Hòa và Cảng hàng không quốc tế Hải Phòng ra khỏi quy hoạch hệ thống cảng hàng không dân dụng...
Bộ Xây dựng yêu cầu Cục Đăng kiểm Việt Nam chủ động triển khai hoạt động đánh giá, chứng nhận và công bố hợp quy đối với thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, đồng thời cho phép chỉ định tạm thời tổ chức thử nghiệm trong trường hợp chưa đáp ứng kịp nhu cầu của doanh nghiệp...
Hiện nhiều cấu phần trong một thiết bị bay không người lái UAV đã được doanh nghiệp Việt Nam tự chủ sản xuất. Tuy nhiên, động lực để phát triển UAV nói riêng và kinh tế tầm thấp nói chung còn đang thiếu. Mở thế chế để quản lý thiết bị bay không người lái, đưa UAV vào từng ngành kinh tế trọng điểm là điều kiện tiên quyết phát triển kinh tế tầm thấp trong thời gian tới.
Khó khăn về truyền tải điện, giải tỏa công suất, chi phí đầu tư tăng cao cùng những vướng mắc trong cơ chế chính sách đang trở thành nguyên nhân khiến nhiều dự án nguồn điện tại Quảng Trị chưa thể triển khai theo kế hoạch. Tỉnh đang phối hợp với các sở, ngành và nhà đầu tư để từng bước tháo gỡ.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Hiện nhiều cấu phần trong một thiết bị bay không người lái UAV đã được doanh nghiệp Việt Nam tự chủ sản xuất. Tuy nhiên, động lực để phát triển UAV nói riêng và kinh tế tầm thấp nói chung còn đang thiếu. Mở thế chế để quản lý thiết bị bay không người lái, đưa UAV vào từng ngành kinh tế trọng điểm là điều kiện tiên quyết phát triển kinh tế tầm thấp trong thời gian tới.