double-skinned crabsVietnamese crab exporter

Khu công nghiệp sinh thái cần được định hình từ khâu quy hoạch

Một khu công nghiệp sinh thái thực chất phải được định hình ngay từ khâu quy hoạch, trước khi viên gạch đầu tiên được đặt xuống, chứ không phải "lớp sơn phủ" lên hạ tầng đã hoàn thiện...

Một khu công nghiệp sinh thái thực chất phải được định hình ngay từ khâu quy hoạch. Ảnh minh họa.
Một khu công nghiệp sinh thái thực chất phải được định hình ngay từ khâu quy hoạch. Ảnh minh họa.

Ông Nguyễn Thành Trung, chuyên gia của Chương trình Khu công nghiệp sinh thái toàn cầu (GEIPP) thuộc Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) nhấn mạnh: "Một khu công nghiệp sinh thái (EIP) không nằm ở số lượng chứng chỉ ESG (Môi trường, Xã hội, Quản trị) hay tỷ lệ cây xanh được bổ sung sau khi khu công nghiệp đã vận hành, mà phải bắt đầu từ khâu quy hoạch định hướng. Đây là bước đi đầu tiên, mang tính quyết định và khó đảo ngược nhất trong toàn bộ vòng đời của một khu công nghiệp".

Nói cách khác, một khu công nghiệp không thể "sinh thái hóa" nếu ngay từ đầu, sơ đồ phân lô, bố trí ngành nghề và hạ tầng dùng chung đã được thiết kế theo tư duy truyền thống, mỗi doanh nghiệp một lô đất riêng biệt, không tính đến khả năng cộng sinh.

QUY HOẠCH BƯỚC ĐI QUYẾT ĐỊNH TRONG VÒNG ĐỜI KHU CÔNG NGHIỆP XANH

Theo khung EIP của UNIDO, bốn nhóm tiêu chí cốt lõi gồm: hiệu quả quản lý khu công nghiệp, hiệu quả môi trường, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. Tất cả đều được cấu trúc theo nguyên tắc "cải tiến liên tục, vượt trên yêu cầu tối thiểu", nhưng đều cần bắt đầu từ hai cấu phần nền tảng: dịch vụ quản lý khu công nghiệp và quy hoạch, phân vùng.

Sự trùng khớp giữa bốn nhóm tiêu chí này với khung ESG mà các nhà đầu tư quốc tế đang áp dụng, không phải ngẫu nhiên. Nhóm quản trị khu công nghiệp với hai trụ cột giám sát rủi ro và quy hoạch phân vùng tương ứng trực tiếp với yếu tố Quản trị (Governance). Nhóm hiệu quả môi trường, bao gồm hiệu quả năng lượng và năng lượng tái tạo, cấp nước và xử lý nước thải, quản lý chất thải và nguyên vật liệu, khả năng chống chịu biến đổi khí hậu, tương ứng với yếu tố Môi trường (Environment). Nhóm hiệu quả xã hội, hạ tầng xã hội và tiếp cận cộng đồng địa phương, tương ứng với yếu tố Xã hội (Social).

Theo khung EIP của UNIDO, bốn nhóm tiêu chí cốt lõi gồm: hiệu quả quản lý khu công nghiệp, hiệu quả môi trường, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế.
Theo khung EIP của UNIDO, bốn nhóm tiêu chí cốt lõi gồm: hiệu quả quản lý khu công nghiệp, hiệu quả môi trường, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế.

Điều này có nghĩa là một khu công nghiệp đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trong bộ khung quốc tế về khu công nghiệp sinh thái, với tổng cộng 64 chỉ tiêu, gần như đương nhiên đáp ứng được yêu cầu vận hành theo ESG mà các tập đoàn đa quốc gia và quỹ đầu tư quốc tế đang đặt ra khi lựa chọn địa điểm sản xuất hoặc nhà cung cấp.

Nhưng bài toán đặt ra ở đây là: làm thế nào để biến một khung tiêu chí vốn mang tính lý thuyết và tổng quát, thành một bản quy hoạch cụ thể, có thể thực thi được trên một lô đất cụ thể?

Ông Trung cho biết đây chính là lý do UNIDO xây dựng một công cụ lập quy hoạch định hướng phát triển khu công nghiệp sinh thái, được thiết kế theo tám bước tuần tự: từ đánh giá hiện trạng và xu hướng tương lai, rà soát khung quốc tế và tác động đến sử dụng đất, xác định ngành công nghiệp mục tiêu, đánh giá các công ty chủ chốt hiện có và tiềm năng, xác định cơ hội hiệp lực giữa các doanh nghiệp, phân cụm khu vực công nghiệp, xây dựng quy hoạch định hướng, cho đến bước cuối cùng là truyền thông và quảng bá giá trị gia tăng của mô hình.

Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận này, theo ông Trung, là mức độ áp dụng của 8 bước nói trên không đồng nhất giữa ba nhóm đối tượng khu công nghiệp sau: khu công nghiệp xây dựng mới hoàn toàn, khu công nghiệp đã hoạt động nhưng chưa phát triển đầy đủ, và khu công nghiệp đã hoạt động và đã phát triển hoàn chỉnh.

Với nhóm đầu tiên, toàn bộ quy trình bước đều có thể áp dụng ở mức độ cao, bởi quy hoạch chưa bị ràng buộc bởi hạ tầng đã tồn tại. Nhưng với nhóm thứ ba, vốn chiếm phần lớn trong số 326 khu công nghiệp đang hoạt động trên cả nước, một số bước quan trọng như rà soát ngành công nghiệp mục tiêu hay xác định cụm công nghiệp chỉ có thể áp dụng ở mức độ thấp, bởi cấu trúc ngành nghề và phân lô đã được định hình từ trước, khó thay đổi mà không phát sinh chi phí cải tạo lớn.

Điều này lý giải cho một thực tế đã tồn tại lâu nay: việc chuyển đổi các khu công nghiệp cũ sang mô hình sinh thái luôn khó khăn và tốn kém hơn nhiều so với việc quy hoạch một khu công nghiệp sinh thái ngay từ đầu.

TỪ NĂNG LƯỢNG, NƯỚC ĐẾN PHÂN CỤM RỦI RO

Ở nhóm tiêu chí môi trường, hai vấn đề được đặt lên hàng đầu là năng lượng và nước. Về năng lượng, quy hoạch định hướng cho thấy việc lắp đặt điện mặt trời trên mái của các doanh nghiệp thứ cấp là giải pháp phổ biến nhất hiện nay, nhưng thực tế sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của toàn khu công nghiệp.

Vì vậy, một khu vực riêng biệt để phát triển điện mặt trời và điện gió quy mô lớn hơn, nằm ngoài phạm vi mái nhà xưởng, cần được xác định ngay trong bước quy hoạch. Điều này cần sự hỗ trợ trực tiếp từ phía Nhà nước, bởi nhu cầu năng lượng tái tạo của các khu công nghiệp đang tăng nhanh, xuất phát từ chính yêu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu, chứ không đơn thuần là lựa chọn tự nguyện của doanh nghiệp hạ tầng.

Ông Nguyễn Thành Trung, chuyên gia của Chương trình Khu công nghiệp sinh thái toàn cầu (GEIPP) thuộc Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO).
Ông Nguyễn Thành Trung, chuyên gia của Chương trình Khu công nghiệp sinh thái toàn cầu (GEIPP) thuộc Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO).

Về nước, quy hoạch phân tách rõ hai luồng xử lý nước thải theo tính chất ô nhiễm, vô cơ và hữu cơ, tương ứng với việc bố trí các cụm ngành chế biến sản phẩm vô cơ và hữu cơ tại các vị trí riêng, mỗi cụm gắn với một hệ thống xử lý nước thải phù hợp với mục đích sử dụng cuối, thay vì dùng chung một hệ thống xử lý đại trà cho mọi loại hình sản xuất.

Một cấu phần khác được ông Trung đặc biệt nhấn mạnh là cộng sinh công nghiệp, yếu tố cốt lõi phân biệt khu công nghiệp sinh thái với khu công nghiệp truyền thống. Đơn cử, tại Đông Phú 2, quy hoạch định hướng xác định các cơ hội chia sẻ dịch vụ và tiện ích xuyên suốt, từ trung tâm đổi mới sáng tạo cung cấp dịch vụ phòng thí nghiệm, thử nghiệm cho các doanh nghiệp thứ cấp, đến dịch vụ ứng phó khẩn cấp dùng chung, khu đỗ xe tải tập trung, hay tiềm năng chia sẻ hạ tầng xử lý nước và thu gom rác thải với hai khu công nghiệp lân cận Đông Phú 1 và Sông Hậu.

Cách tiếp cận này, cho phép các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ tiết giảm đáng kể chi phí đầu tư hạ tầng riêng lẻ, đồng thời tạo ra hiệu ứng cộng hưởng trong chuỗi giá trị khi các công ty cùng lĩnh vực được sắp xếp gần nhau, ví dụ nhóm doanh nghiệp chế biến thực phẩm hay nhóm sản xuất thiết bị điện và máy móc năng lượng tái tạo.

Ở nhóm tiêu chí quản trị, việc quản lý rủi ro cũng được lồng ghép ngay trong khâu phân lô. Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp được phân loại theo mức độ rủi ro thấp, trung bình và cao dựa trên hồ sơ đánh giá tác động môi trường mà mỗi nhà đầu tư phải thực hiện trước khi được chấp thuận đầu tư.

Đáng chú ý, ông Trung nhấn mạnh, quy hoạch sẽ loại trừ hoàn toàn khả năng tiếp nhận các doanh nghiệp có nguy cơ rủi ro cao vào khu công nghiệp này, đồng thời bố trí thêm các lớp bảo vệ vật lý như vùng đệm xanh quanh ranh giới, hệ thống chiếu sáng và camera giám sát tại các điểm ra vào, cùng biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, cụ thể là nâng cao nền đất và xây dựng rào chắn chống ngập lụt cho toàn bộ khu vực. 

Việc tập hợp nhiều công ty có rủi ro tương đối cao trong cùng một khu vực đòi hỏi phân tích rủi ro tích lũy chi tiết hơn theo từng trường hợp cụ thể, chứ không thể áp dụng máy móc theo từng doanh nghiệp đơn lẻ”, ông Trung phân tích.

Bên cạnh đó, yếu tố xã hội được thể hiện qua việc bố trí các không gian dùng chung. Từ chỗ ở ngắn hạn cho chuyên gia, khu ẩm thực, phòng khám sức khỏe, đến khu vực dành riêng cho doanh nghiệp siêu nhỏ và hoạt động ươm tạo doanh nghiệp ... đều nằm xen kẽ giữa các cụm ngành sản xuất chính, thay vì tách biệt hoàn toàn khỏi khu vực sản xuất như cách quy hoạch truyền thống vẫn làm.

Toàn bộ các định hướng này, theo ông Trung, được xây dựng gắn với lộ trình phát triển theo từng giai đoạn cụ thể, chia khu công nghiệp thành các phân kỳ đầu tư rõ ràng, cho phép chủ đầu tư triển khai hạ tầng cộng sinh dần dần, phù hợp với tốc độ lấp đầy thực tế, thay vì phải đầu tư đồng bộ toàn bộ hạ tầng chia sẻ ngay từ giai đoạn một.

Nhập khẩu vật tư nông nghiệp giảm, giá nội địa vẫn neo ở mức cao

Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu nhiều loại vật tư đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu thu hẹp, trong đó phân bón giảm gần 35%, thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 5,6%. Dù giá ngô và đậu tương thế giới hạ nhiệt, giá vật tư trong nước vẫn neo ở mức cao. Đáng chú ý, giá cám gạo nội địa tiếp tục tăng vì nguồn cung hạn chế…

Xuất khẩu rau quả tăng trưởng mạnh nhờ nguồn cung ổn định và quản lý vùng trồng

Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt 3,65 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này đến từ nguồn cung ổn định, diện tích sản xuất tiếp tục mở rộng, công tác quản lý mã số vùng trồng được đẩy mạnh cùng nhu cầu tích cực từ nhiều thị trường xuất khẩu chủ lực...

Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy