Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành trừ trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 48 của Luật này.
Với 433/442 đại biểu tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Chuyển đổi số, đạo luật đóng vai trò nền tảng, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Luật gồm 8 chương, 48 điều, quy định về nguyên tắc, chính sách, cơ chế điều phối và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động chuyển đổi số; đồng thời làm rõ các nội dung trọng tâm về chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Luật khuyến khích gắn hoạt động chuyển đổi số với việc đo lường, đánh giá, giám sát và cải thiện liên tục nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm tuân thủ các nguyên tắc này, các tổ chức, doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước được khuyến khích áp dụng trong hoạt động của mình.
Trong đó, đáng chú ý, điều 7 Luật Chuyển đổi số quy định rõ nguyên tắc kiến trúc và thiết kế hệ thống số. Các hệ thống phải được thiết kế theo hướng sử dụng nền tảng số và các thành phần dùng chung, khai thác hiệu quả hạ tầng điện toán đám mây, bảo đảm khả năng mở rộng linh hoạt và tối ưu chi phí.
Luật khẳng định việc lấy dữ liệu làm trung tâm, dữ liệu phải được thu thập, quản lý, chia sẻ, khai báo một lần và sử dụng hiệu quả để nâng cao chất lượng ra quyết định và chất lượng dịch vụ. Hệ thống phải được thiết kế dựa trên chuẩn mở, kiến trúc mở, hỗ trợ kết nối, tích hợp ngay từ đầu, giao diện lập trình ứng dụng theo chuẩn tạo thuận lợi cho chia sẻ dữ liệu và liên thông giữa các hệ thống.
Người sử dụng được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình thiết kế hệ thống số, bảo đảm tính thuận tiện, dễ tiếp cận, dễ dùng, phù hợp với nhiều nhóm đối tượng, bao gồm người yếu thế và các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.
Điều 9 Luật Chuyển đổi số quy định hệ thống chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số, trong đó nhấn mạnh phát triển hạ tầng số thống nhất, an toàn, tin cậy và có khả năng mở rộng. Nhà nước thúc đẩy hình thành và phát triển dữ liệu số, khuyến khích phát triển và sử dụng nền tảng số dùng chung, nền tảng số mở và các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số phục vụ quản trị và phát triển kinh tế - xã hội.
Chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số cũng bao gồm bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu; khuyến khích đổi mới sáng tạo, thử nghiệm có kiểm soát và ứng dụng công nghệ số mới. Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh thực hiện chuyển đổi số, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp hoạt động tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.
Liên quan đến thu hút, trọng dụng nhân tài chuyển đổi số, Điều 18 quy định, cơ quan, doanh nghiệp nhà nước được phép thuê chuyên gia, cộng tác viên trong và ngoài nước; những cá nhân có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực này được tôn vinh, khen thưởng. Đồng thời, cán bộ, công chức, viên chức làm công tác chuyển đổi số trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị được hưởng chế độ đãi ngộ đặc thù về lương, phụ cấp, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp.
Để bảo đảm hiệu quả triển khai, Luật Chuyển đổi số quy định, cơ quan quản lý nhà nước về chuyển đổi số có trách nhiệm xây dựng và công bố bộ chỉ số đánh giá mức độ chuyển đổi số thống nhất, xây dựng, quản lý, vận hành Nền tảng thống kê, đo lường, giám sát, đánh giá triển khai chuyển đổi số.
Định kỳ hằng năm tổ chức đánh giá mức độ chuyển đổi số của quốc gia, các bộ, ngành, địa phương; kết quả đánh giá được công bố công khai và là căn cứ xếp hạng, khen thưởng, điều chỉnh chính sách, ưu tiên bố trí kinh phí cho các cơ quan, địa phương.
Liên quan đến Chính phủ số, Luật Chuyển đổi số yêu cầu các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp dịch vụ công, quản trị nội bộ và điều hành trên môi trường số, trừ trường hợp pháp luật quy định khác. Các hoạt động chỉ đạo, điều hành phải dựa trên dữ liệu số đầy đủ, chính xác và kịp thời. Quy trình nghiệp vụ phải được rà soát, chuẩn hóa, tái cấu trúc, bảo đảm tinh gọn, không trùng lặp và tăng cường tự động hóa.
Các thủ tục hành chính được cung cấp mặc định theo hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình, chỉ chuyển sang hình thức một phần trong trường hợp pháp luật quy định khác hoặc khi xảy ra sự cố kỹ thuật chưa thể khắc phục ngay. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ người dân, công khai quy trình xử lý hồ sơ và kết quả, đồng thời xử lý nghiêm cán bộ yêu cầu thêm giấy tờ khi hệ thống đã kết nối được với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Luật Chuyển đổi số là bước tiến lớn trong việc thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển quốc gia số. Việc ban hành luật thể hiện quyết tâm xây dựng nền tảng pháp lý đồng bộ, tạo động lực cho phát triển kinh tế số, xã hội số, hướng tới Chính phủ số hoạt động hiệu quả, phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Luật Chuyển đổi số có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.
Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành trừ trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 48 của Luật này.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang đề xuất doanh nghiệp sản xuất và phát hành trò chơi điện tử có nội dung giáo dục, quảng bá các giá trị văn hóa, lịch sử Việt Nam sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, phát triển game thuộc diện khuyến khích...
Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 147/2024/NĐ-CP hiện quy định các tài khoản mạng xã hội dưới 16 tuổi chỉ được xem nội dung, không được đăng bài, bình luận, chia sẻ, bày tỏ cảm xúc hoặc thực hiện các hình thức tương tác khác trên nền tảng...
Liên minh châu Âu (EU) vừa đưa ra quyết định áp mức phạt 890 triệu euro, tương đương 1 tỷ USD, lên Google, trên cơ sở cáo buộc công ty Mỹ này ưu ái các dịch vụ của chính mình...
Cuộc gặp giữa ông Trần Kim Chung - Chủ tịch Tập đoàn CT Group và TS. Kao Kim Hourn - Tổng Thư ký ASEAN đã mở ra một dấu mốc mới trong quan hệ hợp tác giữa khu vực tư nhân Việt Nam và Cộng đồng ASEAN để cùng kiến tạo tương lai bền vững cho cộng đồng gần 700 triệu dân.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.