Vietnamese crab exporterdouble-skinned crabs

Chuyên gia tài chính Sam Van: Đổi mới không nằm ở văn bản chính sách mà nằm ở con người

Trở về quê hương sau nhiều năm xa cách, chuyên gia tài chính, nhà tư vấn đầu tư người Mỹ gốc Việt, Sam Van, đã ngỡ ngàng trước một Việt Nam chuyển mình phi thường từ “sinh tồn” sang cạnh tranh và dẫn dắt. Trò chuyện với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy nhân dịp ra mắt cuốn sách “40 năm từ Đổi mới đến hôm nay”, chuyên gia tài chính Sam Van cho rằng đằng sau cú nhảy vọt kinh tế 40 năm qua là những con người dám "đánh cược" với rủi ro…

Chuyên gia tài chính, nhà tư vấn đầu tư người Mỹ gốc Việt Sam Van chia sẻ về cuốn sách “40 năm từ Đổi mới đến hôm nay”.
Chuyên gia tài chính, nhà tư vấn đầu tư người Mỹ gốc Việt Sam Van chia sẻ về cuốn sách “40 năm từ Đổi mới đến hôm nay”.

Là một người Mỹ gốc Việt sinh ra tại Việt Nam, lớn lên và thành danh tại trung tâm tài chính New York, ông nhìn nhận như thế nào về hành trình 40 năm Đổi mới của Việt Nam?

Khi còn nhỏ và sống trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, TP.HCM, tôi không hề nghĩ đến siêu lạm phát, thiếu hụt lương thực hay cải cách kinh tế quốc gia. Thế giới của tôi lúc đó nhỏ bé và đơn giản hơn nhiều. Tôi chỉ nghĩ đến việc đá bóng dưới mưa, ăn xoài ngọt với cơm, và nhịp sống quen thuộc hàng ngày ở Sài Gòn.

Khi gia đình tôi chuyển đến New York vào năm 1991, toàn bộ thế giới đó đã thay đổi gần như chỉ sau một đêm. Tôi phải học một ngôn ngữ mới, thích nghi với một nền văn hóa mới, vừa làm vừa đi học, và cuối cùng xây dựng sự nghiệp trong ngành tài chính, bao gồm cả thời gian làm việc tại Sở Giao dịch Chứng khoán New York, giúp các công ty lớn của châu Á huy động vốn trên sân chơi toàn cầu.

Khi tôi trở lại Việt Nam vào năm 2007, mười sáu năm sau khi rời đi, tôi thực sự đã không chuẩn bị tâm lý cho việc đất nước thay đổi nhiều đến thế. Việt Nam mang lại cảm giác: nhịp độ nhanh, đầy tham vọng và không ngừng vận động.

Các doanh nghiệp mọc lên khắp nơi, các công ty nhà nước đang được cổ phần hóa, và các công ty nội địa bắt đầu niêm yết trên các sàn chứng khoán mới thành lập.

Nhìn lại toàn bộ hành trình 40 năm, tôi không nghĩ dùng từ “phi thường” để mô tả Đổi mới là nói quá. Việt Nam đã đi từ một quốc gia có hơn một nửa dân số sống trong nghèo đói trở thành một quốc gia có tỷ lệ hộ nghèo hiện dưới mức 2%. Kim ngạch thương mại đã mở rộng từ khoảng 6 tỷ USD lên gần 800 tỷ USD. Việt Nam không còn chỉ đơn thuần là “sinh tồn”; mà đang cạnh tranh, hợp tác và ngày càng vươn lên dẫn dắt theo những cách mà một cậu bé từng đá bóng dưới mưa năm xưa như tôi khó có thể tưởng tượng được.

Ông nói Việt Nam đã chuyển mình từ “sinh tồn” sang cạnh tranh toàn cầu và vươn lên dẫn dắt. Trong cuốn sách “40 năm từ Đổi mới đến hôm nay” mà ông ra mắt gần đây đã tập trung vào việc thấu hiểu nhân tố con người làm nên những thay đổi của nền kinh tế hơn là những văn bản chính sách hay dữ liệu kinh tế. Tại sao vậy, thưa ông?

Dữ liệu kinh tế rất quan trọng, và tôi hiểu lý do vì sao các nhà kinh tế học dựa vào nó. Những con số giúp chúng ta đo lường sự tiến bộ, so sánh các kết quả và hiểu được quy mô của sự thay đổi. Tuy nhiên, chỉ những con số thì không thể giải thích được sự chuyển đổi thực sự diễn ra như thế nào. Một văn bản chính sách nằm trong tủ hồ sơ không tự nó xây dựng nên một công ty, không giải phóng mặt bằng cho một khu đô thị mới, không thiết kế ra một sản phẩm, hay dám chấp nhận rủi ro khi kết quả còn chưa rõ ràng. Con người mới là người làm những điều đó.

Luật pháp và chính sách chỉ trở nên có ý nghĩa khi con người quyết định hành động dựa trên chúng, thường là không có một lộ trình rõ ràng và đôi khi phải đối mặt với những rủi ro thực sự về mặt cá nhân hay sự nghiệp. Đó chính là câu chuyện mà chúng tôi muốn ghi lại trong cuốn sách này.

Theo ông Sam Van, Đổi mới 1.0 về cơ bản là bài toán sinh tồn thì Đổi mới 2.0 sẽ đòi hỏi một bộ từ khóa, bao gồm: niềm tin, sự chính trực, bước nhảy vọt về công nghệ, kỷ luật mở rộng quy mô và tính bền vững.
Theo ông Sam Van, Đổi mới 1.0 về cơ bản là bài toán sinh tồn thì Đổi mới 2.0 sẽ đòi hỏi một bộ từ khóa, bao gồm: niềm tin, sự chính trực, bước nhảy vọt về công nghệ, kỷ luật mở rộng quy mô và tính bền vững.

Chúng tôi không quá bận tâm đến việc chỉ đơn thuần giải thích chuyện gì đã xảy ra hay các chính sách được soạn thảo như thế nào. Điều chúng tôi thực sự muốn là hiểu được ai đã làm cho Đổi mới thành hiện thực. Động cơ đích thực đằng sau sự tăng trưởng của Việt Nam chính là những con người đã dám đánh cược vào những quyết định khó khăn, giải quyết các vấn đề khi chúng nảy sinh, và tiếp tục tiến bước ngay cả khi các thể chế, thị trường hay quy định vẫn chưa sẵn sàng. Để hiểu cách Việt Nam thực sự vận hành, và đất nước có thể đang hướng tới đâu, chúng ta phải bắt đầu từ những con người đó.

Tại sao ông và đồng tác giả Sam Korsmoe lại chọn ra 25 chân dung đại diện cho 5 nhóm nhân vật qua các thời kỳ của chặng đường Đổi mới của Việt Nam?

Không thể nào kể câu chuyện của 100 triệu người thông qua những bức chân dung cá nhân, vì vậy chúng tôi đã phải lựa chọn rất cẩn thận. Ngay từ những ngày đầu bắt tay vào làm, Sam và tôi nhận ra rằng tính thời điểm cũng quan trọng không kém gì bối cảnh xuất thân. Một người xây dựng doanh nghiệp vào đầu những năm 1990, khi Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với tác động của lệnh cấm vận thương mại từ Mỹ, phải đối diện với một môi trường rất khác so với một nhà sáng lập công nghệ khởi nghiệp một công ty blockchain ngày nay. Khát vọng có thể giống nhau, nhưng điều kiện, trở ngại và cơ hội thì hoàn toàn khác biệt.

Chúng tôi chia bốn thập kỷ qua thành năm giai đoạn lịch sử và tập trung vào năm nhóm người riêng biệt: Nhóm người Việt được đào tạo ở Đông Âu, nhóm người Việt trở về từ phương Tây, nhóm doanh nhân bản địa tự thân vươn lên, nhóm Việt kiều trở về đóng góp cho quê hương, và nhóm các nhà đầu tư nước ngoài có sự gắn kết sâu sắc với đất nước.

25 bức chân dung này nằm ở điểm giao thoa của các giai đoạn và bối cảnh đó. Cùng nhau, họ cho thấy Việt Nam đã được xây dựng như thế nào thông qua sự hợp tác, những va chạm, thử nghiệm, sự đột phá và cả những thất bại qua nhiều thế hệ.

Như ông vừa chia sẻ thì sự khác biệt cốt lõi trong tư duy quản trị và góc nhìn đổi mới giữa thế hệ học tập tại Đông Âu (thập niên 70-80) và thế hệ trở về từ Tây Âu/Bắc Mỹ (thập niên 90-2000) khi tham gia vào nền kinh tế Việt Nam là gì?

Việc so sánh hai thế hệ này rất thú vị vì nó cho thấy tư duy kinh tế của Việt Nam đã tiến hóa như thế nào theo thời gian.

Góc nhìn độc đáo về hành trình chuyển mình của Việt Nam

Cuốn sách “40 năm từ Đổi Mới đến hôm nay” mang đến một góc nhìn độc đáo về hành trình chuyển mình của Việt Nam thông qua câu chuyện của 25 cá nhân tiêu biểu đã trực tiếp tham gia, chứng kiến hoặc góp phần tạo nên những thay đổi quan trọng của đất nước.

Thông qua hàng chục cuộc phỏng vấn chuyên sâu, hai tác giả Sam Van và Sam Korsmoe đã tái hiện sinh động năm giai đoạn phát triển của công cuộc Đổi mới, từ những ngày đầu “vượt rào” đầy khó khăn đến những khát vọng mới của Việt Nam trong giai đoạn Đổi mới 2.0.

Thế hệ Đông Âu trở về với nền tảng đào tạo kỹ thuật vững chắc trong các lĩnh vực như kỹ thuật, toán học và thiết kế hệ thống, phần lớn được định hình bởi mô hình Xô Viết. Tuy nhiên, khi về nước, họ bước vào một nền kinh tế kế hoạch hóa với nguồn lực vô cùng hạn hẹp và gần như không có khu vực kinh tế tư nhân.

Hệ quả là, họ trở thành những người giải quyết vấn đề cực kỳ thực tế. Họ học cách ứng biến, làm việc trong khuôn khổ những hạn chế, và tìm ra những kẽ hở trong một hệ thống cứng nhắc. Ở Việt Nam, điều này đôi khi được gọi là “phá rào”. Nó không có nghĩa là phá hủy hệ thống. Nó có nghĩa là tìm ra đủ không gian bên trong hệ thống đó để giữ cho sự phát triển tiếp tục tiến bước.

Thế hệ trở về từ Tây Âu và Bắc Mỹ vào những năm 1990 và 2000 mang theo một bộ công cụ khác. Họ am hiểu về thị trường, tài chính doanh nghiệp, đầu tư mạo hiểm, quản trị và các tiêu chuẩn kinh doanh quốc tế. Nhiều người trong số họ không chỉ đơn thuần cố gắng luồn lách qua các cấu trúc hiện có; họ muốn xây dựng những cấu trúc mới.

Họ giới thiệu những khái niệm vẫn còn xa lạ ở Việt Nam lúc bấy giờ, bao gồm giao dịch chứng khoán trực tuyến, các tiêu chuẩn quản trị toàn cầu, và bất động sản được quy hoạch tổng thể. Theo nghĩa đó, nhóm đầu tiên học cách làm cho hệ thống cũ phải chuyển động, trong khi nhóm thứ hai giúp thiết kế các thể chế và mô hình cho một nền kinh tế hiện đại hơn.

Đối với thế hệ khởi nghiệp tự thân tại bản địa, điều gì đã giúp họ vượt qua những khó khăn để đạt được thành công trong hành trình vươn lên của cùng đất nước, thưa ông?

Các doanh nhân bản địa tự thân đã phải xây dựng doanh nghiệp trong một môi trường có rất ít lợi thế. Không có một cẩm nang hướng dẫn rõ ràng nào, việc tiếp cận vốn vay ngân hàng bị hạn chế, và môi trường pháp lý thường thay đổi chóng mặt. Nhiều quy định chưa rõ ràng, và các hệ thống hỗ trợ chính thức vẫn còn non trẻ. Thế nhưng, những doanh nhân này vẫn xây dựng nên các công ty.

Điều giúp họ thành công là sự kết hợp giữa bản năng, tốc độ, sự kiên cường và niềm tin. Họ hiểu rất rõ người tiêu dùng Việt Nam thực sự cần gì ở thời điểm đó. Họ sẵn sàng hành động nhanh chóng, vừa làm vừa học, và điều chỉnh khi điều kiện thay đổi. Họ cũng phụ thuộc rất nhiều vào các mạng lưới niềm tin phi chính thức khi các thể chế chính thức chưa sẵn sàng. Họ không chờ đợi những điều kiện hoàn hảo rồi mới hành động. Thay vào đó, họ tạo ra động lực trên thực tế, và trong nhiều trường hợp, hệ thống cuối cùng đã phải chạy theo để bắt kịp với những gì họ đang xây dựng. Sự quyết tâm đó xứng đáng nhận được sự tôn trọng thực sự.

Còn cộng đồng người Việt hải ngoại về nước tái thiết sự nghiệp, họ đóng góp như thế nào đối với sự phát triển của Việt Nam trong hành trình ấy, thưa ông?

Những kiều bào trở về đã đóng góp nhiều hơn là chỉ mang theo nguồn vốn, mặc dù nguồn vốn chắc chắn là rất quan trọng. Họ mang theo kinh nghiệm quốc tế, các tiêu chuẩn chuyên môn, phương pháp quản trị rủi ro và các mạng lưới toàn cầu vào đúng thời điểm Việt Nam cần kết nối sâu rộng hơn với thế giới bên ngoài.

Nhiều người trong số họ đã giúp xây dựng những quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên của Việt Nam, hỗ trợ các công ty nội địa mà các nhà đầu tư truyền thống chưa chịu rót vốn, và thành lập các tổ chức thiện nguyện có tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Quan trọng không kém, họ trở về với một góc nhìn vừa thực tế vừa đầy hy vọng. Lịch sử lẽ ra có thể cho họ những lý do để tránh xa, nhưng nhiều người đã chọn nhìn Việt Nam qua lăng kính của những cơ hội khả thi. Họ có sự gắn kết với văn hóa, thoải mái hội nhập với thế giới, và sẵn sàng giúp Việt Nam làm cầu nối thu hẹp khoảng cách giữa khát vọng vươn lên của người Việt và cơ hội toàn cầu.

Nhìn lại 5 nhóm nhân vật và cả “nhóm thứ sáu” như chia sẻ của Đại sứ Nguyễn Quốc Cường, trong tưởng tượng của ông, trong cuộc Đổi Mới 2.0 hướng tới cột mốc 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia giàu mạnh thì Việt Nam sẽ cần những con người như thế nào?

Đại sứ Nguyễn Quốc Cường đã nêu một điểm khiến tôi nhớ mãi. Ông nói về “nhóm thứ sáu” gồm những người nước ngoài đến Việt Nam với tư cách là người ngoài cuộc nhưng cuối cùng lại nảy sinh cảm giác thuộc về nơi này một cách chân thành. Quan sát đó nói lên một điều quan trọng về đất nước chúng ta. Việt Nam thường phát triển bằng cách thu hút những người quan tâm sâu sắc đến tương lai của đất nước, bất kể họ sinh ra ở đâu.

Đối với cột mốc 2045, Việt Nam sẽ cần những con người với một chân dung phức tạp và đòi hỏi khắt khe hơn. Đất nước sẽ cần những nhà lãnh đạo có thể hiểu về trí tuệ nhân tạo, tài chính xanh và chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng đồng thời cũng có thể ngồi lại với một cộng đồng địa phương và thấu hiểu những mối bận tâm thiết thực của họ. Đất nước sẽ cần những người thông thạo hội nhập toàn cầu nhưng vẫn bám rễ sâu vào giá trị bản địa.

Việt Nam cũng sẽ cần những người kiến tạo thể chế, chứ không chỉ là những doanh nhân có khả năng xoay xở nhanh chóng. Những giải pháp linh hoạt không chính thức đã giúp đất nước tiến bước trong các giai đoạn cải cách trước đây, nhưng chúng sẽ không đủ để đưa Việt Nam vươn lên tầm cao mới. Trên hết, đất nước sẽ cần những người cam kết trong dài hạn, những người không chỉ chăm chăm đuổi theo các khoản lợi nhuận thoái vốn chóng vánh (quick exits), và những người muốn xây dựng những hệ thống tạo ra cơ hội cho toàn xã hội, chứ không chỉ cho những người vốn đã ở trên đỉnh tháp.

Nếu thế hệ Đổi Mới 1.0 bắt đầu từ khóa cốt lõi là “sinh tồn” thì theo ông, từ khóa cốt lõi định hình cho thế hệ đổi mới 2.0 hướng tới năm 2045 sẽ là gì?

Đổi mới 1.0 về cơ bản là bài toán sinh tồn. Các gia đình cần lương thực, sự ổn định và cơ hội để xây dựng lại cuộc sống. Những cải cách xoay quanh quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai có sức mạnh to lớn vì chúng giải quyết một nhu cầu cấp bách và thiết yếu. Những người đã lèo lái qua giai đoạn đó xứng đáng nhận được sự ghi nhận lớn lao vì họ đã giúp đưa đất nước từ sự thiếu thốn chuyển sang một bối cảnh đầy tiềm năng.

Đổi mới 2.0 sẽ đòi hỏi một bộ từ khóa khác.

Đầu tiên là niềm tin, bởi Việt Nam phải chuyển từ các mối quan hệ giao dịch ngắn hạn sang những quan hệ đối tác sâu sắc hơn, có thể kéo dài qua nhiều thập kỷ và vượt qua các biên giới quốc gia.

Thứ hai là sự chính trực, bởi những thể chế vững mạnh hơn và các tiêu chuẩn cao hơn cũng sẽ quan trọng không kém gì bản thân sự tăng trưởng.

Thứ ba là bước nhảy vọt công nghệ, vì Việt Nam không thể mãi dựa vào gia công lắp ráp giá rẻ mà phải tiến mạnh mẽ hơn vào các lĩnh vực như chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, sản xuất tiên tiến và công nghệ sinh học.

Thứ tư là kỷ luật mở rộng quy mô, bởi vì việc khởi tạo một công ty là một thử thách, nhưng xây dựng nó từ một lên mười, lên một trăm lại là một bài toán hoàn toàn khác.

Cuối cùng, tính bền vững phải là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi thứ. Giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của Việt Nam phải bao gồm năng lượng sạch, các thành phố thông minh hơn, và một sự phát triển không để lại cho các thế hệ tương lai những di sản vấn đề mà họ không đủ khả năng giải quyết.

Trân trọng cảm ơn ông!

Tín dụng, hạ tầng và tăng trưởng

Việc Ngân hàng Nhà nước mới đây mở cơ chế đặc biệt cho 18 dự án của Vingroup, Sun Group và Masterise đã tạo ra rất nhiều tranh luận. Sẽ là cực đoan nếu ủng hộ hay phản đối hoàn toàn. Thay vào đó, là góc nhìn ủng hộ có điều kiện để tin tưởng vào sự phát triển của đất nước, nhưng đồng thời thận trọng với những rủi ro tiềm ẩn...

Cơ hội để Hà Nội bứt phá mạnh mẽ

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu Hà Nội chuyển hóa nhanh các định hướng của quy hoạch thành những chương trình, dự án và công trình cụ thể; lấy hiệu quả thực thi, nâng cao đời sống Nhân dân làm thước đo của năng lực quản trị...

Hệ thống metro Hà Nội “bước” sang chu kỳ phát triển mới

Sau hơn một thập niên nỗ lực định hình các tuyến đường sắt đô thị đầu tiên, Hà Nội đang bước vào giai đoạn bứt phá hạ tầng bằng việc khởi công cùng lúc 5 tuyến metro với tổng chiều dài hơn 300 km. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô đầu tư, mà còn ở việc thành phố lần đầu tiên triển khai một chương trình phát triển metro theo tư duy mạng lưới thay vì từng dự án riêng lẻ.

Chính phủ cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại của năm 2026

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 168/NQ-CP cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm cho những tháng còn lại của năm 2026, trong đó yêu cầu Bộ Tài chính khẩn trương trình phương án điều chỉnh linh hoạt thuế xăng dầu, nhiên liệu bay theo diễn biến giá thế giới, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp tài khóa, tiền tệ và đầu tư công nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên…

Nghệ An tăng tốc xử lý 87 dự án tồn đọng

Nghệ An đang tăng tốc xử lý các dự án tồn đọng kéo dài nhằm khơi thông nguồn lực đầu tư, sử dụng hiệu quả đất đai và tạo động lực phát triển kinh tế. Tỉnh yêu cầu các đơn vị tập trung tháo gỡ khó khăn nhưng phải bảo đảm đúng quy định pháp luật, không hợp thức hóa sai phạm và xử lý nghiêm trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan...

35 năm trước, Thời báo Kinh tế Việt Nam ra đời cùng với sự đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế của đất nước, đã đồng hành và có những đóng góp, dù còn rất nhỏ bé, cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước. Tròn 6 năm kể từ năm 2020, Tạp chí Kinh tế Việt Nam lại tiếp tục song hành cùng sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Và với sự ra mắt đồng thời hai nền tảng công nghệ Asko CMS và Askonomy vào ngày 26/6/2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy - Vietnam Economic Times nguyện sẽ đồng hành cùng Kỷ nguyên vươn mình của đất nước.

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy