Chiều 30/6, tại thành phố Đà Nẵng, đã diễn ra hội thảo "Trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong điện ảnh".
Phát biểu tại hội thảo, Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng cho biết năm 2025, doanh thu phòng vé Việt Nam đạt gần 5.600 tỷ đồng, với hơn 70 triệu lượt vé bán ra; phim Việt chiếm khoảng 62% thị phần phim ra rạp.
Năm 2025 cũng ghi nhận trên 50 phim Việt phát hành, mức cao nhất trong khoảng một thập kỷ. Điều đó cho thấy điện ảnh Việt Nam đã là một ngành kinh tế sáng tạo có quy mô, có khán giả, có dữ liệu, có dòng tiền và có trách nhiệm pháp lý.
Nhưng cũng trong bức tranh ấy, số lượt xem phim tại rạp bình quân của người Việt Nam mới khoảng 0,7 lần/người/năm, thấp hơn một số thị trường trong khu vực như Malaysia (1 lần/người/năm) hay Singapore (1,3 lần/người/năm), nghĩa là dư địa tăng trưởng còn rất lớn.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, cần chuyển từ tư duy “làm phim” sang tư duy “tạo tài sản điện ảnh”. Nếu chúng ta làm tốt hơn về chất lượng nội dung, phân phối số, quảng bá, bảo vệ bản quyền và trải nghiệm khán giả, điện ảnh Việt Nam còn có thể đi xa hơn nhiều so với kết quả hiện nay.
“Bởi, một bộ phim không kết thúc khi rời rạp mà có đời sống trên nền tảng số, truyền hình, giáo dục, du lịch, phái sinh nhân vật, âm nhạc, trò chơi và giao lưu quốc tế. Nếu chỉ nhìn bộ phim như một tác phẩm đơn lẻ, chúng ta sẽ bỏ lỡ giá trị dài hạn. Nếu nhìn bộ phim như một tài sản sở hữu trí tuệ, chúng ta sẽ phải quản trị kịch bản, âm nhạc, hình ảnh, nhân vật, diễn viên, dữ liệu sản xuất, quyền phân phối và quyền khai thác ngay từ ngày đầu tiên. Đó có lẽ là tư duy phù hợp hơn cho giai đoạn điện ảnh chúng ta đang bước vào,” Thứ trưởng lý giải.
Trong nhiều thập kỷ, làm phim là công việc đòi hỏi thiết bị đắt tiền, nhân lực chuyên môn sâu, trường quay, hậu kỳ, phát hành và quảng bá với chi phí lớn. Công nghệ số đã làm giảm một phần rào cản đó. Công nghệ phát triển, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo - AI đang làm thay đổi rất nhanh cấu trúc chi phí và cấu trúc năng lực của ngành điện ảnh. Một số nghiên cứu quốc tế dự báo thị trường AI trong làm phim có thể tăng từ hơn 3 tỷ USD năm 2024 lên trên 20 tỷ USD vào đầu thập niên 2030.
Nhiều thử nghiệm cho thấy AI có thể hỗ trợ viết kịch bản, dựng bản phác thảo cảnh quay (storyboard), tiền kỳ, hậu kỳ, kỹ xảo hình ảnh, lồng tiếng, phụ đề, phục chế, phân tích khán giả và quảng bá. Những việc trước đây cần nhiều tháng, nhiều đội ngũ, nhiều ngân sách, nay có thể được làm nhanh hơn, rẻ hơn và cá nhân hóa hơn.
Một nhóm nhỏ có thể thử ý tưởng nhanh hơn. Một nhà sản xuất độc lập có thể dựng nhiều phương án hình ảnh hơn. Một bộ phim Việt có thể được lồng tiếng, phụ đề, quảng bá tới nhiều thị trường hơn. Một kho phim cũ có thể được phục chế. Một chiến dịch truyền thông có thể hiểu khán giả tốt hơn.
Đó là cơ hội lớn. Nhưng cơ hội này không tự động biến thành năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, công nghệ mới chỉ tạo ra khả năng. Năng lực cạnh tranh có lẽ chỉ thực sự hình thành khi chúng ta chọn đúng bài toán, có dữ liệu đúng, có quy trình đúng và có cơ chế đo lường.
“Tôi rất tâm đắc với một cách nói: Giai đoạn đầu của AI là cuộc đua xem máy có thể làm được gì. Giai đoạn tiếp theo của AI là cuộc đua xem con người chọn việc gì để giao cho máy, giữ lại việc gì cho con người và đo giá trị tạo ra như thế nào. Đối với điện ảnh Việt Nam, đây là điểm mấu chốt.
Chúng ta không chạy theo AI để cho thấy mình “cũng có AI”. Chúng ta dùng AI để giải những điểm nghẽn thật: chi phí cao, thời gian dài, thiếu dữ liệu thị trường, thiếu dữ liệu khán giả, vi phạm bản quyền, phân phối quốc tế còn yếu, kho di sản chưa được khai thác, thiếu nhân lực kết hợp giữa nghệ thuật, pháp lý và công nghệ,” Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng chia sẻ.
Dẫn chứng về một ví dụ rất cụ thể đang diễn ra ngay cạnh Việt Nam, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết: Chỉ trong quý đầu năm 2026, toàn ngành phim ngắn Trung Quốc ra mắt khoảng 128.000 bộ phim, phần lớn do AI tạo ra.
Tuy nhiên, AI vẫn là công cụ gây tranh cãi trong ngành sáng tạo. Trong lĩnh vực điện ảnh, những lo ngại xoay quanh nguy cơ mất việc làm, các câu hỏi đạo đức về việc sử dụng hình ảnh diễn viên mà không có sự đồng ý, và những tranh luận về tính xác thực nghệ thuật.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, nếu chỉ nhìn AI như một chiếc máy giúp làm phim nhanh hơn và rẻ hơn thì chúng ta mới nhìn thấy một nửa vấn đề. Nửa còn lại quan trọng hơn: Khi chi phí tạo nội dung giảm xuống rất thấp, thì chi phí để xác định nguồn gốc, xác định quyền, xác định trách nhiệm và bảo vệ niềm tin của thị trường lại tăng lên rất cao.
Trước đây, để làm giả một cảnh quay, giọng nói, gương mặt, bản nhạc, hay trích đoạn phim, đoàn làm phim cần nhiều năng lực kỹ thuật. Bây giờ, một người bình thường cũng có thể tạo ra những nội dung có sức thuyết phục cao nhờ AI.
Hay trước đây, vi phạm bản quyền có thể là sao chép một bản phim. Bây giờ, vi phạm có thể là cắt, ghép, tóm tắt, biến đổi, huấn luyện mô hình, tạo bản sao số của diễn viên, sử dụng giọng nói hoặc hình ảnh mà người liên quan không biết, không đồng ý và không được hưởng lợi.
Một nghịch lý đáng chú ý cũng tồn tại song song: dù phim có diễn viên người thật ít hơn rất nhiều về số lượng, lượt xem lại cao hơn đáng kể so với phim AI hoàn toàn. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc tốc độ sản xuất không thể thay thế cảm xúc thực sự từ con người. Những hệ quả pháp lý cũng nhanh chóng nổi lên khi nhiều diễn viên phát hiện hình ảnh của mình bị tái tạo bởi AI mà không hề có sự đồng ý, buộc các cơ quan quản lý phải vào cuộc và ban hành những quy định mới.
Bức tranh đó phản ánh đầy đủ cả hai mặt của làn sóng AI trong điện ảnh: cơ hội mở rộng sáng tạo là có thật, nhưng rủi ro về đạo đức, pháp lý và bản sắc nghệ thuật cũng không kém phần hiện hữu. Với Việt Nam, đây là thời điểm để quan sát, chọn lọc và định hướng - học từ những gì thế giới đã đạt được, đồng thời tỉnh táo nhận ra những cái bẫy sáng tạo mà ngành điện ảnh toàn cầu đang phải trả giá để rút ra bài học.




Từ áo đấu, giày bóng đá, bóng thi đấu World Cup cho tới các vật phẩm lưu niệm, người hâm mộ đang góp phần tạo nên một mùa kinh doanh sôi động cho các thương hiệu thể thao và hệ thống bán lẻ…
Liên hoan phim Châu Á Đà Nẵng lần thứ IV - DANAFF IV 2026 đã chính thức khai mạc vào tối 28/6 tại Cung Hội nghị Quốc tế Ariyana thành phố Đà Nẵng, mang đến một không khí sôi động và đầy màu sắc...
Chiều 27/6, tại Furama Resort Danang, UBND TP. Đà Nẵng và Hiệp hội xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam (VFDA) tổ chức họp báo khai mạc Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng lần thứ Tư năm 2026 (DANAFF IV)...
Những người yêu thích đồ chơi nghệ thuật - art toy có thể khám phá không gian trưng bày, tham gia các hoạt động tương tác và tìm hiểu những sản phẩm được phát hành độc quyền...
Sự phát triển của AI, dữ liệu lớn và các nền tảng số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với ngành điện ảnh, truyền hình và nội dung số, đồng thời mở ra cơ hội hợp tác quốc tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sáng tạo tại Việt Nam...
Ngày 22/6/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã đồng loạt khởi công 5 tuyến đường sắt đô thị (metro) với tổng chiều dài khoảng 303,5 km và tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1.315.256 tỷ đồng, đặt mục tiêu cơ bản hoàn thành vào năm 2030.
Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức được khai trương sáng ngày 29/6/2026 tại trụ sở Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.