Sáng 5/6, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên tiếp tục trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội. Trước đó, đại biểu Phạm Trọng Nghĩa, đoàn Lạng Sơn, cho hay Việt Nam là một trong những quốc gia có độ mở, nền kinh tế tăng rất nhanh và ở mức rất cao. Thống kê sơ bộ cho thấy, tỷ lệ kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP tăng từ 81% năm 1990 lên 111% năm 2000 và lên 158% năm 2023.
Ngoài nhiều lợi ích về chính trị, ngoại giao, việc gia tăng các hiệp định thương mại tự do sẽ càng gia tăng độ mở của nền kinh tế.
Nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam là quốc gia đang phát triển nhưng có nền kinh tế có độ mở quá cao, nếu không có những giải pháp, chính sách tốt sẽ đem lại nhiều hệ lụy như nền kinh tế trở nên dễ bị tổn thương, nhạy cảm với biến động từ bên ngoài.
Xuất nhập khẩu nhiều nhưng chủ yếu là hàng hóa thông dụng, lao động vẫn ở vị trí thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu, nguy cơ bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình là hiện hữu.
Nêu thực tế này, đại biểu đặt vấn đề quan điểm của Bộ trưởng từ góc độ thương mại, cũng như Chiến lược phê chuẩn các hiệp định thương mại tự do trong thời gian tới sẽ ra sao? Làm thế nào để tăng tính chống chịu của nền kinh tế và phát huy thị trường nội địa trên 100 triệu dân?
Nhấn mạnh hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương lớn và nhất quán của Đảng, Nhà nước ta từ năm 1986 đến nay, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên cho hay gần 40 năm qua nhờ thực hiện chủ trương này, cùng với nỗ lực của mình, Việt Nam đã có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Theo Bộ trưởng, việc đẩy mạnh đàm phán ký kết hiệp định thương mại tự do, thu hút đầu tư nước ngoài để thúc đẩy sản xuất xuất khẩu… là bước đi cần thiết. Nếu không, Việt Nam không thể có vốn đầu tư lớn, không có công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản trị và đặc biệt là thị trường để tiêu thụ.
Tuy nhiên, đồng tình với đại biểu nếu kéo dài chủ trương này sẽ đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế gia công và rơi vào bẫy thu nhập trung bình, người đứng đầu ngành Công Thương cho rằng trong thời gian tới một mặt cần phải nâng cao năng lực hội nhập của nền kinh tế đất nước, nâng cao năng lực hội nhập của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.
Đồng thời, phải tiếp tục mở cửa thị trường, mở cửa nền kinh tế thông qua việc thu hút đầu tư FDI có chọn lọc và ký kết mới cũng như là nâng cấp các hiệp định thương mại tự do đã có ở những thị trường tiềm năng.
Về định hướng tham gia FTA mới, Bộ trưởng cho rằng có bốn định hướng cơ bản.
Thứ nhất, phải quán triệt thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng là hội nhập kinh tế ngày càng sâu nhưng phải giữ vững định hướng chính trị.
Thứ hai, gắn kết giữa đầu tư, đàm phán, ký kết hiệp định với đẩy mạnh cải cách trong nước, hoàn thiện thể chế kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và sản phẩm.
Thứ ba, ưu tiên đối tác tiềm năng mang lại lợi ích to lớn, thiết thực để đàm phán, ký kết mới và nâng cấp các hiệp định thương mại tự do hiện hành khi có điều kiện.
Thứ tư, chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong đàm phán và ký kết các hiệp định, đồng thời, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, đánh giá tác động của FTA với nền kinh tế và với doanh nghiệp của Việt Nam.
Còn về tiêu chí để lựa chọn đàm phán các hiệp định mới, Bộ trưởng Bộ Công Thương nêu rõ, trước hết phải dựa vào quy mô, tiềm năng của thị trường và ưu tiên các đối tác có tiềm năng tăng trưởng cao cũng nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế.
Cùng với đó, mức độ cam kết mở cửa thị trường thì phải lưu ý các đối tác cam kết có độ mở lớn như là giảm thuế quan, giảm các cái hàng rào phi thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam.
Bộ trưởng cũng nhấn mạnh khả năng hợp tác và hỗ trợ phát triển trong việc chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, hợp tác nghiên cứu và đầu tư vốn… Đồng thời phải dựa vào tầm quan trọng chiến lược của đối tác trong khu vực và thế giới để góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Nghiên cứ báo cáo của Bộ Công Thương, đại biểu Nguyễn Trúc Sơn, đoàn Bến Tre, cho rằng tình hình xuất khẩu của Việt Nam đang rất khả quan và xu hướng 2024, 2025 cũng sẽ rất tốt, nhất là, thị trường FTA rất rộng. Tuy nhiên, qua phản ánh của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn như tỷ giá đồng USD với đồng Euro đang có xu hướng hơi bất lợi; chi phí vận tải biển rất cao…
Nêu những khó khăn của các doanh nghiệp xuất khẩu trong đó có nông sản, đại biểu đoàn Bến Tre chất vấn Bộ trưởng cùng với Ngân hàng Nhà nước có giải pháp như thế nào để hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, nhất là chế độ, chính sách về tín dụng.
Đồng tình với đại biểu về tác động bất lợi của tỷ giá, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho rằng một số ngoại tệ mạnh tác động đến xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian vừa qua, nhất là việc nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản liên tục duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ tăng, giữ lãi suất ở mức cao từ năm 2023 đến nay và vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc.
Mặt khác, chi phí logistics tăng cao do xung đột vũ trang, cạnh tranh địa chính trị cũng gây bất lợi cho xuất nhập khẩu. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, tỷ giá kết hợp với chính sách tài khóa phù hợp, góp phần thúc đẩy và phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong năm qua và đặc biệt, trong 5 tháng đầu năm rất ngoạn mục.
Trên thực tế, tỷ giá USD ở mức cao, tuy ảnh hưởng đến doanh nghiệp nhập khẩu nhưng lại có lợi cho những doanh nghiệp mà Việt Nam xuất khẩu là chủ đạo. Tất nhiên, chúng ta hướng tới xuất khẩu nhờ năng lực cạnh tranh bền vững chứ không chỉ trông đợi tranh thủ tỷ giá thuận lợi.
Đưa ra những giải pháp căn bản cần triển khai thực hiện trong thời gian tới, Bộ trưởng cho hay sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, ưu tiên nguồn lực để hỗ trợ doanh nghiệp, nâng cao năng lực nội tại, nhiều hàng hóa chất lượng và giá cả cạnh tranh.
Cùng với đó tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao tiếp cận thị trường thông qua việc đẩy mạnh đa dạng hóa các hoạt động xúc tiến thương mại, tích cực đàm phán, ký kết và khai mở những thị trường mới và tiếp tục đẩy mạnh thương mại điện tử.
Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ thương hiệu, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp, thị trường nước ngoài, cập nhật thông tin để có những phản ánh, phản ứng chính sách phù hợp và có lợi cho Việt Nam. Nhà nước cũng cần có chính sách hỗ trợ lãi suất và tạo điều kiện cho vay thông thoáng hơn…
Với kế hoạch kéo dài tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên đến sân bay Long Thành và mở rộng mạng lưới metro lên 255 km vào năm 2030, TP. Hồ Chí Minh không chỉ đáp ứng nhu cầu đi lại ngày càng tăng mà còn tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực…
Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 quán triệt đường lối Đại hội XIV, đánh giá tình hình quốc tế, xác định nhiệm vụ đối ngoại, đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao hiệu quả thực thi ngành.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa ban hành Nghị quyết số 09/2026/UBTVQH16 quy định quy chế lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm...
Luật Báo chí 2025 ra đời mở rộng không gian hoạt động báo chí, xác lập địa vị pháp lý các kênh nội dung đưa lên không gian mạng; thúc đẩy chuyển đổi số và mô hình báo chí đa dịch vụ, tăng cường quản lý của nhà nước.
Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết yêu cầu báo chí đổi mới nội dung, tăng phân tích chính sách, đồng hành cùng tăng trưởng hai con số và củng cố niềm tin xã hội.
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.