Vietnamese crab exporterdouble-skinned crabs

Những tác động từ chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đối với Việt Nam

Các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam. Mức thuế 12,5% theo Điều 301 không gây tác động tiêu cực lớn đến xuất khẩu công nghệ cao, nhưng lại đặt ra bài toán khó cho ngành nông sản và dệt may. Việt Nam cần có chiến lược thích ứng để duy trì lợi thế cạnh tranh.

Những tác động từ chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đối với Việt Nam

Chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ, đặc biệt là Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, đang tạo ra những thay đổi đáng kể trong thương mại quốc tế. Được kích hoạt dưới thời Tổng thống Donald Trump, các biện pháp này đã áp dụng mức thuế mới đối với hàng nhập khẩu từ 60 nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Mức thuế 12,5% được áp dụng cho Việt Nam, với lý do chính là các quốc gia này chưa thực hiện đủ biện pháp ngăn chặn sản phẩm từ lao động cưỡng bức vào thị trường Mỹ.

Điều 301 cho phép Tổng thống Mỹ áp dụng các biện pháp thương mại để đối phó với các hành vi thương mại không công bằng từ các quốc gia khác. Trong trường hợp này, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) đã tiến hành điều tra và kết luận rằng nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam, chưa có biện pháp đủ mạnh để ngăn chặn sản phẩm từ lao động cưỡng bức. Mức thuế 12,5% đối với Việt Nam không chỉ là biện pháp trừng phạt mà còn là lời cảnh báo về việc cần cải thiện các tiêu chuẩn lao động.

NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

Trên thực tế, mức thuế này có thể gây lo ngại, nhưng tác động tiêu cực đối với triển vọng xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam không quá lớn. Nguyên nhân là do các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Mỹ, như thiết bị điện và điện tử công nghệ cao, được loại trừ khỏi danh sách đánh thuế. Điều này giúp giảm bớt áp lực cho các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.

Mặc dù vậy, mức thuế 12,5% cũng có thể mang lại một số lợi thế cho Việt Nam. Trước hết, việc giảm mức thuế từ gần 20% xuống 12,5% có thể giúp các doanh nghiệp Việt Nam tiết kiệm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, việc áp dụng mức thuế đồng loạt có thể tạo ra một sân chơi công bằng hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam, khi mà các đối thủ cạnh tranh cũng phải chịu mức thuế tương tự.

Tuy nhiên, để tận dụng được những lợi thế này, Việt Nam cần phải có những chiến lược thích ứng phù hợp. Các doanh nghiệp cần phải đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, không chỉ tập trung vào thị trường Mỹ mà còn mở rộng sang các thị trường tiềm năng khác. Đồng thời, việc nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu mạnh mẽ cũng là những yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp Việt Nam duy trì và mở rộng thị phần.

Cải thiện năng lực logistics là một yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam.
Cải thiện năng lực logistics là một yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam.

Ngoài ra, Việt Nam cũng cần phải chú trọng đến việc cải thiện năng lực logistics và chuỗi cung ứng để giảm thiểu chi phí và tăng cường hiệu quả hoạt động. Việc đầu tư vào công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng là một trong những giải pháp quan trọng giúp các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng phức tạp.

Như vậy, mức thuế đối ứng toàn cầu 12,5% của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức không nhỏ cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là trong các ngành thủy sản và dệt may. Tuy nhiên, với những chiến lược thích ứng phù hợp và sự nỗ lực của các doanh nghiệp, Việt Nam hoàn toàn có thể biến thách thức thành cơ hội để phát triển bền vững trong tương lai.

CẦN MỘT CHIẾN LƯỢC THÍCH ỨNG HIỆU QUẢ

Trong bối cảnh các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức đáng kể cho Việt Nam, việc xây dựng chiến lược thích ứng hiệu quả là điều cần thiết.

Để hóa giải các thách thức từ chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ, Việt Nam cần thực hiện một loạt các chiến lược từ cam kết về lao động, đa dạng hóa thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu đến cải thiện năng lực logistics. Những chiến lược này không chỉ giúp Việt Nam đạt được mức thuế ưu đãi hơn mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

Một trong những yếu tố quan trọng để đạt được mức thuế ưu đãi hơn là cam kết của Việt Nam về việc ngăn chặn lao động cưỡng bức. Để giảm mức thuế từ 12,5% xuống 10%, Việt Nam cần ký kết một thỏa thuận thương mại có đi có lại với Mỹ, trong đó bao gồm cam kết cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất từ lao động cưỡng bức. Đây không chỉ là một yêu cầu pháp lý mà còn là một bước đi chiến lược để cải thiện hình ảnh quốc gia và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Ngoài việc đáp ứng các yêu cầu về lao động, Việt Nam cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đa dạng hóa thị trường giúp giảm sự phụ thuộc vào một thị trường duy nhất, từ đó giảm thiểu rủi ro khi có biến động chính sách. Các doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm kiếm cơ hội tại các thị trường mới nổi hoặc các khu vực có nhu cầu cao về sản phẩm mà Việt Nam có thế mạnh. Đồng thời, nâng cao chất lượng sản phẩm là yếu tố then chốt để duy trì và mở rộng thị phần. Điều này đòi hỏi đầu tư vào công nghệ sản xuất, cải tiến quy trình và đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

Việc xây dựng thương hiệu mạnh mẽ cũng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược thích ứng của Việt Nam. Một thương hiệu mạnh không chỉ giúp sản phẩm dễ dàng nhận diện trên thị trường mà còn tạo ra giá trị gia tăng, giúp sản phẩm có thể bán với giá cao hơn. Để xây dựng thương hiệu, các doanh nghiệp cần tập trung vào việc phát triển câu chuyện thương hiệu, tạo dựng niềm tin với khách hàng thông qua chất lượng sản phẩm và dịch vụ khách hàng xuất sắc. Ngoài ra, việc tham gia các hội chợ thương mại quốc tế và sử dụng các kênh truyền thông hiện đại cũng là cách hiệu quả để quảng bá thương hiệu.

Cải thiện năng lực logistics là một yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Hệ thống logistics hiệu quả giúp giảm chi phí vận chuyển, tăng tốc độ giao hàng và cải thiện dịch vụ khách hàng. Việt Nam cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng logistics, bao gồm cảng biển, đường bộ và hệ thống kho bãi. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý logistics cũng giúp tối ưu hóa quy trình và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Trong bối cảnh thương mại phức tạp hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam cần có những khuyến nghị cụ thể để thích ứng. Trước hết, cần tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) để tạo ra các sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Việc đầu tư vào R&D không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững. Thứ hai, các doanh nghiệp cần xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với các nhà cung cấp và khách hàng quốc tế để đảm bảo nguồn cung ổn định và mở rộng thị trường tiêu thụ. Cuối cùng, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng để thực hiện các chiến lược trên. Nhân lực có kỹ năng và kiến thức sẽ giúp doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với các thay đổi của thị trường và công nghệ.

Ngoài ra, việc tăng cường hợp tác quốc tế và tham gia vào các hiệp định thương mại tự do cũng là một hướng đi quan trọng. Các hiệp định này không chỉ mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất. Việt Nam cần tận dụng tối đa các lợi ích từ các hiệp định thương mại đã ký kết và tiếp tục đàm phán các thỏa thuận mới để mở rộng thị trường xuất khẩu.

Trong tương lai, Việt Nam cần tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động của các chính sách thuế quan mới từ Hoa Kỳ và các quốc gia khác. Việc nắm bắt kịp thời các thay đổi trong chính sách thương mại quốc tế sẽ giúp Việt Nam điều chỉnh chiến lược phù hợp, từ đó duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Với những bước đi chiến lược và sự chuẩn bị kỹ lưỡng, Việt Nam có thể vượt qua thách thức và tận dụng cơ hội để phát triển kinh tế bền vững trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng phức tạp.

HOA KỲ CÔNG BỐ MỨC THUẾ THEO ĐIỀU TRA MỤC 301 VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC, HÀNG VIỆT NAM CHỊU THUẾ BỔ SUNG 12,5%

Ngày 23/7/2026, Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã ra Thông báo công bố kết luận cuối cùng và các biện pháp xử lý trong cuộc điều tra theo Mục 301 Đạo luật Thương mại 1974 với 60 nền kinh tế liên quan tới chính sách đối với hàng hóa nhập khẩu sản xuất bởi lao động cưỡng bức mà Cơ quan này khởi xướng điều tra hồi tháng 3/2026.

Trong kết luận này, USTR không thay đổi cáo buộc tại kết luận sơ bộ, theo đó Hoa Kỳ cho rằng tất cả 60 nền kinh tế bị điều tra đều chưa bảo đảm các tiêu chí về lao động cưỡng bức theo cách hiểu của Hoa Kỳ ở các mức độ khác nhau.

Trên cơ sở các kết luận này, Tổng thống Trumps đã chỉ đạo USTR công bố các biện pháp thuế trừng phạt với 60 nền kinh tế liên quan (chiếm 99,4% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa vào Hoa Kỳ), chia thành ba nhóm cụ thể như sau:

Nhóm 1 - áp dụng mức thuế bổ sung 10% đối với 17 nền kinh tế: Argentina, Bangladesh, Campuchia, Canada, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Malaysia, Mexico, Pakistan, Sri Lanka, Trinidad và Tobago, và Vương quốc Anh.

Nhóm 2 – áp dụng mức thuế từ 10%-12.5% đối với 05 nền kinh tế: Áp dụng cơ chế tính thuế “khấu trừ MFN” theo đó, (i) tổng thuế MFN hiện hành và thuế bổ sung theo Điều tra 301 về lao động cưỡng bức này là ngưỡng 10% đối với EU và Đài Loan (Trung Quốc), và là 12.5% đối với Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Sỹ, nếu thuế MFN nhỏ hơn ngưỡng; và (ii) nếu thuế MFN bằng hoặc lớn hơn ngưỡng, thuế theo Mục 301 sẽ bằng 0.

Nhóm 3 – áp dụng mức thuế bổ sung 12.5% đối với toàn bộ các nền kinh tế còn lại, trong đó có Việt Nam.

Về phạm vi áp dụng, các biện pháp thuế nói trên sẽ được áp dụng đối với tất cả hàng hóa từ đối tác liên quan ngoại trừ các loại hàng hóa thuộc danh sách miễn trừ nêu tại Phụ lục I và II Phần A của Thông báo (được đính kèm dưới đây), cơ bản thuộc các trường hợp sau:

Hàng viện trợ, vật phẩm phục vụ trao đổi thông tin;

Hàng hóa đang thuộc diện áp thuế theo Mục 232 (một số sản phẩm nhôm thép, sản phẩm phái sinh, ô tô và linh kiện ô tô...);

Hàng hóa mà Hoa Kỳ có nhu cầu cao (một số nguyên liệu thô, nông sản thiếu hụt…) hoặc được cho là cần thiết để thúc đẩy thực hiện mục tiêu loại bỏ lao động cưỡng bức bởi đối tác.

Riêng đối với hàng dệt may của Bangladesh, Campuchia, Indonesia và Malaysia, Hoa Kỳ sẽ áp dụng cơ chế Hạn ngạch Thuế quan (TRQ) đặc biệt dự kiến trong 03 năm. Cơ chế này cho phép các quốc gia trên xuất khẩu một khối lượng dệt may nhất định vào Hoa Kỳ mà không bị áp khoản thuế bổ sung theo Mục 301 này nếu họ sử dụng nguyên liệu bông và hàng dệt may nhập khẩu từ Hoa Kỳ.

Về thời điểm áp dụng, USTR thông báo các biện pháp thuế nói trên sẽ chính thức được áp dụng đối với hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ 0 giờ 01 phút ngày 24/7/2026 (giờ miền Đông Hoa Kỳ).

Về thời hạn, theo quy định của Mục 301, các biện pháp này sẽ tự động hết hiệu lực sau 04 năm nếu không được gia hạn. Tuy nhiên, USTR có thể sửa đổi hoặc chấm dứt biện pháp khi hoàn cảnh thay đổi, bao gồm trường hợp đối tác thương mại thay đổi chính sách liên quan đến hành vi bị điều tra.

Như vậy, hàng hóa Việt Nam vào Hoa Kỳ từ 24/7/2026 sẽ phải chịu mức thuế bổ sung 12,5%, ngoại trừ các mặt hàng được miễn trừ nêu tại Phụ lục I và Phụ lục II Phần A của Thông báo (được đính kèm dưới đây).

Tính từ tháng 3/2026 đến nay, Hoa Kỳ đã và đang tiến hành 03 cuộc điều tra theo Mục 301 đối với hàng nhập khẩu Việt Nam liên quan tới lao động cưỡng bức, dư thừa sản xuất và sở hữu trí tuệ. Ngoài cuộc điều tra về lao động cưỡng bức đã có kết luận cuối cùng nói trên, doanh nghiệp xuất khẩu sang Hoa Kỳ cũng cần quan tâm và có giải pháp ứng phó với hai cuộc điều tra còn lại về sản xuất dư thừa và sở hữu trí tuệ mà nước này đang tiến hành.

(Nguồn: Phòng WTO và Hội nhập, Ban Pháp chế - VCCI).

Quy định mới về việc cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bởi hành vi cưỡng bức lao động

Nghị định 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026 cấm nhập khẩu các sản phẩm, hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bởi hành vi cưỡng bức lao động từ các doanh nghiệp, quốc gia, vùng lãnh thổ phù hợp với các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên...

Bệ phóng cho thế hệ lãnh đạo doanh nghiệp Việt vươn tầm thế giới

Một nền kinh tế mạnh cần có những doanh nghiệp mạnh. Một cộng đồng doanh nghiệp mạnh cần có những nhà lãnh đạo có tầm nhìn, có năng lực và có khát vọng. Chương trình “CEO Việt Nam Kỷ nguyên mới” sẽ góp phần hình thành một mạng lưới CEO có tư duy hiện đại, có năng lực quản trị ngang tầm khu vực và quốc tế…

Phân Bón Cà Mau nâng tầm giá trị mới cho Cà phê Robusta Việt

Việt Nam hiện là quốc gia sản xuất Robusta lớn nhất thế giới, xuất khẩu khoảng 1,5 triệu tấn mỗi năm, đóng góp hơn 43% sản lượng Robusta toàn cầu và tạo sinh kế cho hơn 600.000 hộ nông dân. Song, để biến lợi thế thị trường thành lợi thế cạnh tranh bền vững, chất lượng Robusta Việt cần được nâng tầm từ gốc rễ sản xuất.

Hoàn thiện hạ tầng và thể chế để khơi thông “dòng chảy” logistics Việt Nam

Việt Nam được đánh giá có nhiều lợi thế để thu hút đầu tư vào lĩnh vực logistics nhờ vị trí địa lý chiến lược, khả năng kết nối thương mại và tiềm năng phát triển hạ tầng. Tuy nhiên, để chuyển hóa những lợi thế này thành động lực tăng trưởng, cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, thể chế và đẩy mạnh chuyển đổi số...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy