Theo Cổng thông tin điện tử Quốc hội, chiều 24/8/2026, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập.
Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận sẽ được tách thành 3 dự án độc lập: Dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phục vụ các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận; Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1; Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2.
Trước khi biểu quyết, Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập.
Theo quy định hiện hành của Luật Đầu tư công, Luật đầu tư, dự án Nhà máy điện hạt nhân thuộc thẩm quyền phê duyệt chủ trương của Thủ tướng Chính phủ. Trong trường hợp dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, Ninh Thuận 2 đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Quốc hội, thì thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư dự án là của Quốc hội. Trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư công hoặc đầu tư, tùy theo hình thức đầu tư.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, Nghị quyết số 41/2009/QH12 được ban hành năm 2009, trước thời điểm Luật Đầu tư công có hiệu lực. Nghị quyết này chưa xác lập đầy đủ các nội dung về chủ trương đầu tư dự án, đồng thời không quy định dự án thành phần và không có tên Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, Ninh Thuận 2. Vì vậy không có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện trình tự thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư của 2 dự án này, dẫn tới cần thiết phải tách dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập.
Về cơ chế phối hợp, điều phối, thống nhất giữa các dự án sau khi tách: Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/QĐ-TTg về việc thành lập Ban chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ chỉ đạo, phối hợp, giải quyết những công việc quan trọng, liên ngành, liên quan đến việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Nghị quyết này là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai trình tự, thủ tục phê duyệt các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 sau khi Quốc hội ban hành nghị quyết tách thành 3 dự án độc lập.
Theo nội dung được tiếp thu, chỉnh lý, Chính phủ cũng được giao chỉ đạo tổ chức thực hiện các dự án độc lập sau khi tách, bảo đảm tiến độ và nguồn lực thực hiện dự án; xây dựng cơ chế quản lý, phối hợp, điều phối nhằm bảo đảm thống nhất, sử dụng hiệu quả hạ tầng kỹ thuật dùng chung, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh.
Về hoàn thiện cơ chế chuyển tiếp, thời điểm Nghị quyết số 41/2009/QH12 hết hiệu lực và rà soát các cơ chế chính sách đặc biệt, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã hoàn thiện dự thảo nghị quyết quy định khi cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc chấm dứt hiệu lực của Nghị quyết số 41/2009/QH12.
Như vậy, khi cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, Chính phủ sẽ căn cứ vào các nội dung chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 đã được phê duyệt, tình hình chuẩn bị đầu tư của dự án Ninh Thuận 2 và các điều kiện thực tế khác, báo cáo Quốc hội về việc chấm dứt hiệu lực của Nghị quyết số 41/2009/QH12, bảo đảm không có khoảng trống pháp lý.
Việc tách dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập nhằm tạo cơ sở pháp lý để xác lập vị trí độc lập của các dự án, cho phép thực hiện các thủ tục mà không bị phụ thuộc lẫn nhau về mặt tiến độ, trình tự triển khai.
Với 476/481 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, bằng 95,20% tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết của Quốc hội về việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập. Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày được Quốc hội thông qua.




Phát biểu tại lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa chính là "vườn ươm" của những tập đoàn lớn, đồng thời đóng vai trò là nền tảng vững chắc giúp đất nước bứt phá với mục tiêu tăng trưởng hai con số...
Thanh khoản và tín dụng tăng không đồng nghĩa nền kinh tế đã có đủ vốn cho phát triển. Vấn đề của Việt Nam nằm sâu hơn ở cấu trúc tài chính, khi hệ thống ngân hàng đang phải gánh quá nhiều nhu cầu vốn có thời gian hoàn vốn từ vài năm đến vài chục năm. Muốn chuyển từ tăng trưởng dựa vào tín dụng sang tăng trưởng dựa trên năng lực sản xuất, Việt Nam cần hình thành "vốn kiên nhẫn" và một hệ sinh thái tài chính đa kênh...
Trong 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Vĩnh Long đạt gần 2 tỷ USD, tăng 13,56% so với cùng kỳ. Địa phương đang tập trung mở rộng thị trường để tạo động lực cho những tháng cuối năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng GRDP quý 3 ở mức 12,77% và cả năm 2026 đạt 10%...
Đợt rà soát hành chính định kỳ biện pháp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp hướng vào ba nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm: pin năng lượng mặt trời, mật ong thô và túi dệt...
VASEP nhận định thuế Section 301 tại Hoa Kỳ đang tạo ra mặt bằng cạnh tranh mới cho thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, yếu tố quyết định không chỉ là mức thuế 12,5% mà là tổng chi phí đưa sản phẩm vào thị trường Hoa Kỳ, gồm thuế MFN, Section 301, AD/CVD nếu có, cùng chi phí logistics và các yêu cầu kỹ thuật...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Việt Nam đang có tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ. Thậm chí, với những nguồn mỏ dầu khí đang cạn kiệt còn mở ra cơ hội lưu trữ carbon. Tận dụng tốt các nguồn mỏ này sẽ tạo ra CCS, Carbon Capture & Storage – một thị trường mới đầy tiềm năng, quy mô hàng chục tỷ USD.