Ngày 6/5, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng chủ trì cuộc họp nghe báo cáo triển khai thực hiện Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 của Bộ Chính trị về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026-2035; đồng thời đánh giá 2 năm thực hiện đề án “Phát triển bền vững một triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”.
Qua báo cáo và ý kiến thảo luận, Bộ trưởng đánh giá cao tinh thần tham mưu của các đơn vị, song cũng thẳng thắn chỉ ra việc nắm tình hình còn chưa sâu sát. Do đó, ông Hùng đề nghị các cơ quan tham mưu cần nắm chắc nội dung công việc thì mới có thể giải quyết hiệu quả. Theo Bộ trưởng, khi đã nắm chắc, nếu tập trung quyết liệt thì hoàn toàn có thể đạt kết quả tốt, thậm chí vượt mục tiêu.
Đối với các đề án lớn như đề án 1 triệu hecta lúa phát thải thấp, cầu đánh giá khách quan, đầy đủ, trên tinh thần trách nhiệm tập thể.
Bộ trưởng nhấn mạnh yêu cầu phải hành động ngay, trước hết là công tác quán triệt Kết luận 26. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cần được triển khai bài bản, sâu rộng đến từng cấp, từng tổ chức.
Theo đó, Bộ phải chủ động xây dựng kế hoạch riêng, tổ chức quán triệt trong toàn hệ thống từ cấp bộ đến chi bộ, bảo đảm nghiêm túc, đồng bộ, tránh hình thức. Một trong những nội dung trọng tâm tiếp theo là khẩn trương hoàn thiện chương trình hành động của Chính phủ. Chương trình hành động phải bảo đảm nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ sản phẩm”. Các nội dung liên ngành cần phân công cụ thể, tránh chồng chéo hoặc bỏ sót.
Ngoài ra, cần tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; đổi mới cách tiếp cận trong đầu tư, quản lý tài nguyên; phát triển khoa học công nghệ; tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế.
Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cũng nhấn mạnh yêu cầu phải rà soát, tổng hợp đầy đủ số liệu về các loại hình thiên tai như sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán.
Ông Hùng đề nghị cần xây dựng bức tranh tổng thể trong 10 -15 năm gần đây về tình trạng thiên tai trên phạm vi cả nước nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, đặc biệt tại các khu vực trọng điểm như hệ thống sông, vùng ven biển, khu dân cư. Cùng với đó cần phân tích rõ nguyên nhân, trong đó có tác động của con người như khai thác cát, khai thác nước ngầm, thay đổi dòng chảy...
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu kèm theo báo cáo phải có bản đồ hệ thống sông, thể hiện rõ dòng chảy, các công trình như đê, đập, các khu vực bị ảnh hưởng; từ đó phân tích khu vực thiếu cát, bồi lắng và đề xuất giải pháp bảo đảm “sinh thủy” cho toàn hệ thống.
Liên quan đến triều cường, đây là thách thức hiện hữu, tác động trực tiếp đến đời sống người dân, đặc biệt tại các vùng đồng bằng, ven sông, ven biển. Do đó, ông Hùng yêu cầu cần làm rõ giải pháp ứng phó, phân định rõ trách nhiệm giữa các bộ, ngành, địa phương.
“Nếu biết tận dụng, điều kiện tự nhiên có thể trở thành lợi thế để phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch gắn với môi trường sông nước. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi quy hoạch bài bản, từ bố trí dân cư đến tổ chức sinh kế phù hợp…”, ông Hùng nhấn mạnh.
Thành phố Hà Nội yêu cầu ưu tiên tái chế, tái sử dụng chất thải rắn xây dựng và gia cố đất ngay tại công trường; tận dụng tối đa cốt nền tự nhiên, hạn chế đào bỏ nền và vận chuyển đất thải. Thành phố đồng thời đẩy mạnh sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu xanh, thân thiện môi trường trong các công trình sử dụng vốn nhà nước, khuyến khích áp dụng đối với các dự án ngoài ngân sách...
Từ bảo vệ rừng tự nhiên, quản lý hàng nghìn cá thể động vật hoang dã đến mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC, Huế đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm gìn giữ đa dạng sinh học, phát triển lâm nghiệp xanh và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu...
Những cam kết trong Nghị định thư Montreal đặt ra bài toán phải chuyển đổi công nghệ cho các doanh nghiệp lĩnh vực điều hòa không khí di động, không khí gia dụng; lĩnh vực thiết bị lạnh công nghiệp, lạnh thương mại. Dự án "Quản lý bền vững các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal" vừa chính thức được khởi động nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, đáp ứng các cam kết quốc tế.
Việt Nam sở hữu tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính trên nhiều lĩnh vực trụ cột như năng lượng, công nghiệp, nông lâm nghiệp và chất thải. Đây là lợi thế lớn để khai thác nguồn tài chính xanh từ thị trường carbon quốc tế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris. Dù vậy, khoảng cách từ tiềm năng đến một dự án carbon có thể giao dịch thương mại vẫn rất lớn. Để tối ưu hóa nguồn thu carbon, tiếp cận công nghệ mới và đáp ứng chuẩn mực toàn cầu, doanh nghiệp phải bắt đầu với việc tuân thủ chặt chẽ yêu cầu pháp lý trong nước cũng như các tiêu chuẩn tạo tín chỉ theo Điều 6...
Nghị định số 112/2026/NĐ-CP góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam, mở cánh cửa trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế; góp phần huy động nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế phục vụ quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải thấp. Tuy nhiên, việc trao đổi quốc tế không chỉ nhằm khai thác giá trị thương mại của tín chỉ carbon mà còn phải bảo đảm lợi ích quốc gia và ưu tiên thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Những cam kết trong Nghị định thư Montreal đặt ra bài toán phải chuyển đổi công nghệ cho các doanh nghiệp lĩnh vực điều hòa không khí di động, không khí gia dụng; lĩnh vực thiết bị lạnh công nghiệp, lạnh thương mại. Dự án "Quản lý bền vững các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal" vừa chính thức được khởi động nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, đáp ứng các cam kết quốc tế.