double-skinned crabsVietnamese crab exporter

Mở cánh cửa chủ động tham gia thị trường carbon quốc tế

Nghị định số 112/2026/NĐ-CP góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam, mở cánh cửa trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế; góp phần huy động nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế phục vụ quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải thấp. Tuy nhiên, việc trao đổi quốc tế không chỉ nhằm khai thác giá trị thương mại của tín chỉ carbon mà còn phải bảo đảm lợi ích quốc gia và ưu tiên thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam...

Nghị định 112/2026/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý để Việt Nam chủ động tham gia thị trường carbon quốc tế, thu hút thêm nguồn lực cho chuyển đổi xanh và phát triển công nghệ phát thải thấp. Ảnh: VET Media
Nghị định 112/2026/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý để Việt Nam chủ động tham gia thị trường carbon quốc tế, thu hút thêm nguồn lực cho chuyển đổi xanh và phát triển công nghệ phát thải thấp. Ảnh: VET Media

Ngày 01/04/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Đây là văn bản pháp lý nhằm cụ thể hóa Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường, các quy định của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và yêu cầu quản lý hoạt động trao đổi tín chỉ carbon với đối tác quốc tế.

BA KHUÔN KHỔ TRAO ĐỔI QUỐC TẾ

Nghị định số 112/2026/NĐ-CP điều chỉnh hoạt động trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế theo ba khuôn khổ chính.

Thứ nhất, hợp tác theo Khoản 2 Điều 6 Thỏa thuận Paris (Cơ chế Điều 6.2). Theo cơ chế này, Việt Nam có thể ký kết thỏa thuận song phương hoặc đa phương với một quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris hoặc một tổ chức quốc tế để thiết lập khuôn khổ hợp tác chuyển giao kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.

Các thỏa thuận Điều 6.2 quy định nguyên tắc hợp tác; đăng ký dự án; công nhận kết quả giảm phát thải và cấp tín chỉ; tiêu chuẩn hoặc phương pháp tạo tín chỉ được áp dụng; thủ tục chấp thuận chuyển giao quốc tế.

Phiên thảo luận tại tọa đàm "Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp". Ảnh: Việt Dũng
Phiên thảo luận tại tọa đàm "Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp". Ảnh: Việt Dũng

Thứ hai, Cơ chế Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris. Đây là cơ chế trao đổi và bù trừ tín chỉ carbon được vận hành dưới sự giám sát, quản lý tập trung của Ban Thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và kế thừa Cơ chế Phát triển sạch (CDM). Việc đăng ký dự án, phê duyệt phương pháp luận, cấp tín chỉ và quản lý tín chỉ được thực hiện theo các quy định, hướng dẫn quốc tế của Cơ chế Điều 6.4.

Thứ ba, trao đổi tín chỉ từ các chương trình, dự án áp dụng tiêu chuẩn carbon độc lập. Đây là các tiêu chuẩn do tổ chức quốc tế ban hành, quản lý. Các dự án có thể được đăng ký và cấp tín chỉ theo quy trình của tổ chức quản lý tiêu chuẩn, nhưng việc chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng vẫn phải đáp ứng các điều kiện và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận.

Việc quy định đồng thời ba khuôn khổ giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia.

ƯU TIÊN THỰC HIỆN MỤC TIÊU GIẢM PHÁT THẢI CỦA VIỆT NAM

Nguyên tắc xuyên suốt của Nghị định là trao đổi quốc tế phải ưu tiên thực hiện NDC của Việt Nam và các mục tiêu giảm nhẹ phát thải theo điều ước, cam kết quốc tế.

Hoạt động trao đổi phải tuân thủ Thỏa thuận Paris; hỗ trợ chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bảo đảm lợi ích quốc gia và đóng góp cho phát triển bền vững tại địa phương.

Mọi hoạt động trao đổi giữa Việt Nam với đối tác quốc tế phải được ghi nhận, công bố trên Hệ thống đăng ký quốc gia. Đây là cơ sở theo dõi nguồn gốc, tình trạng và mục đích sử dụng tín chỉ, qua đó hạn chế tính hai lần và tăng cường minh bạch.

Đối với lượng được chuyển giao có điều chỉnh tương ứng, Việt Nam phải điều chỉnh kết quả kiểm kê phát thải khí nhà kính quốc gia. Lượng giảm phát thải đã chuyển giao không tiếp tục được tính cho NDC của Việt Nam mà được sử dụng cho NDC hoặc mục tiêu giảm nhẹ khác của bên nhận. Vì vậy, việc chấp thuận chuyển giao cần cân đối giữa huy động nguồn lực quốc tế với yêu cầu bảo đảm khả năng thực hiện mục tiêu khí hậu của Việt Nam.

TỶ LỆ CHUYỂN GIAO QUỐC TẾ CỤ THỂ

Nghị định phân loại các biện pháp, hoạt động giảm phát thải được chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng thành hai danh mục.

Thứ nhất, gồm các biện pháp, hoạt động được ưu tiên chuyển giao. Đây chủ yếu là những giải pháp sử dụng công nghệ mới, tiên tiến hoặc cần nguồn lực đầu tư lớn. Với các dự án thuộc danh mục này, tỷ lệ chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng tối đa 90% lượng kết quả giảm nhẹ phát thải hoặc tín chỉ carbon được cấp trong một giai đoạn tạo tín chỉ.

Thứ hai, gồm các biện pháp, hoạt động được khuyến khích chuyển giao. Tỷ lệ chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng tối đa với các dự án thuộc danh mục này là 50%.

Trường hợp chuyển giao quốc tế không thực hiện điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa là 90% với tất cả chương trình, dự án. Phần kết quả giảm nhẹ phát thải hoặc tín chỉ còn lại sau khi chuyển giao quốc tế được phép sử dụng để trao đổi trong nước.

Việc phân loại và quy định tỷ lệ chuyển giao phản ánh cách tiếp cận thận trọng của Việt Nam. 

Các công nghệ mới, chi phí cao, cần sự hỗ trợ quốc tế được tạo điều kiện chuyển giao với tỷ lệ cao hơn, trong khi một phần kết quả từ các biện pháp có khả năng đóng góp trực tiếp cho NDC được giữ lại để phục vụ nhu cầu trong nước.

Đối với dự án thực hiện trong khuôn khổ Thỏa thuận Điều 6.2, quy trình quản lý theo các bước từ đăng ký ý tưởng, chấp thuận đăng ký dự án, đo đạc và thẩm định kết quả, cấp hoặc công nhận kết quả giảm nhẹ phát thải đến chấp thuận chuyển giao quốc tế.

QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN

Trước hết, cơ quan, tổ chức có nhu cầu thực hiện dự án gửi hồ sơ đăng ký ý tưởng đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ý tưởng dự án được xem xét trên cơ sở sự phù hợp với danh mục biện pháp, hoạt động giảm phát thải được phép chuyển giao quốc tế, cũng như chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của ngành, lĩnh vực và địa phương. 

Khi ý tưởng được chấp thuận, tổ chức hoàn thiện hồ sơ đề nghị đăng ký dự án gồm tài liệu thiết kế và báo cáo thẩm định theo tiêu chuẩn carbon áp dụng trong Thỏa thuận Điều 6.2. Sau khi dự án được đăng ký, các cơ quan, tổ chức tham gia có trách nhiệm đo đạc, báo cáo kết quả giảm phát thải theo tiêu chuẩn được áp dụng. Kết quả phải được thẩm định bởi đơn vị được tổ chức quản lý tiêu chuẩn hoặc Thỏa thuận Điều 6.2 công nhận.

Trên cơ sở kết quả giảm nhẹ phát thải hoặc tín chỉ carbon đã được cấp, công nhận và ghi nhận trên Hệ thống đăng ký quốc gia, tổ chức đại diện có thể đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp văn bản chấp thuận chuyển giao quốc tế. 

Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Đây là văn bản pháp lý nhằm cụ thể hóa Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường, các quy định của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và yêu cầu quản lý hoạt động trao đổi tín chỉ carbon với đối tác quốc tế
Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Đây là văn bản pháp lý nhằm cụ thể hóa Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường, các quy định của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và yêu cầu quản lý hoạt động trao đổi tín chỉ carbon với đối tác quốc tế

Với Cơ chế Điều 6.4, việc đăng ký, sửa đổi, cấp tín chỉ và quản lý chương trình, dự án thực hiện theo quy định, hướng dẫn của Thỏa thuận Paris và Cơ quan giám sát cơ chế.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét sự phù hợp của dự án với NDC và đóng góp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia. Sau khi dự án được Cơ quan giám sát Cơ chế Điều 6.4 phê duyệt đăng ký, tổ chức đại diện có trách nhiệm báo cáo định kỳ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Tín chỉ carbon được cấp theo quy trình của Cơ chế Điều 6.4. Tuy nhiên, việc chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng vẫn phải được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, cấp văn bản chấp thuận. Cơ chế này bảo đảm sự kết nối giữa quy trình quản lý quốc tế và yêu cầu quản lý quốc gia, đặc biệt là kiểm soát tác động của chuyển giao tín chỉ carbon với khả năng thực hiện NDC của Việt Nam.

Với các tiêu chuẩn carbon độc lập, Nghị định không mặc nhiên công nhận mọi tiêu chuẩn hoặc phương pháp tạo tín chỉ đang được sử dụng trên thị trường quốc tế. Tiêu chuẩn được xem xét phải có hệ thống quản lý minh bạch và được quốc tế công nhận; phương pháp tạo tín chỉ phải rõ ràng, bảo đảm tính bổ sung, tính bền vững, có thể định lượng, kiểm chứng và không trùng lặp…

Việc đăng ký và cấp tín chỉ cho chương trình, dự án được thực hiện theo quy định của tổ chức quản lý tiêu chuẩn carbon độc lập. Tổ chức đại diện có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện dự án cho bộ quản lý lĩnh vực và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đối với chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ xem xét các chương trình, dự án áp dụng phương pháp tạo tín chỉ thuộc danh mục công nhận của Việt Nam. 

Theo quy định, các doanh nghiệp, tổ chức phát triển dự án cần chuẩn bị hồ sơ pháp lý, xác định rõ quyền đối với kết quả giảm phát thải, lựa chọn phương pháp tạo tín chỉ phù hợp, áp dụng đo đạc, báo cáo và thẩm định, đồng thời làm rõ phương án phân chia lợi ích giữa các bên tham gia và cộng đồng địa phương.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan thống nhất quản lý hoạt động trao đổi quốc tế; thay mặt Chính phủ cấp văn bản chấp thuận chuyển giao, thực hiện điều chỉnh tương ứng và vận hành Hệ thống đăng ký quốc gia. Các bộ quản lý lĩnh vực sẽ tham gia đánh giá chuyên môn, kỹ thuật…

Nghị định 112/2026/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý để Việt Nam chủ động tham gia thị trường carbon quốc tế, thu hút thêm nguồn lực cho chuyển đổi xanh và phát triển công nghệ phát thải thấp. Các quy định mới khẳng định nguyên tắc xuyên suốt: trao đổi tín chỉ carbon phải gắn với chất lượng giảm phát thải, khả năng thực hiện NDC, tính minh bạch và lợi ích lâu dài của quốc gia.

(*) Phó Trưởng phòng Thị trường carbon, Cục Biến đổi khí hậu.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-30-2026.htm

VnEconomy

Hà Nội: Đẩy nhanh các dự án xử lý chất thải xây dựng, ưu tiên tái chế ngay tại công trường

Thành phố Hà Nội yêu cầu ưu tiên tái chế, tái sử dụng chất thải rắn xây dựng và gia cố đất ngay tại công trường; tận dụng tối đa cốt nền tự nhiên, hạn chế đào bỏ nền và vận chuyển đất thải. Thành phố đồng thời đẩy mạnh sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu xanh, thân thiện môi trường trong các công trình sử dụng vốn nhà nước, khuyến khích áp dụng đối với các dự án ngoài ngân sách...

Huế: Bảo vệ rừng, tăng tốc phát triển lâm nghiệp xanh

Từ bảo vệ rừng tự nhiên, quản lý hàng nghìn cá thể động vật hoang dã đến mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC, Huế đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm gìn giữ đa dạng sinh học, phát triển lâm nghiệp xanh và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu...

Lộ trình chuyển đổi cho doanh nghiệp theo Nghị định thư Montreal

Những cam kết trong Nghị định thư Montreal đặt ra bài toán phải chuyển đổi công nghệ cho các doanh nghiệp lĩnh vực điều hòa không khí di động, không khí gia dụng; lĩnh vực thiết bị lạnh công nghiệp, lạnh thương mại. Dự án "Quản lý bền vững các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal" vừa chính thức được khởi động nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, đáp ứng các cam kết quốc tế.

Phát triển dự án tín chỉ carbon theo Điều 6: Những lưu ý cho doanh nghiệp Việt Nam

Việt Nam sở hữu tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính trên nhiều lĩnh vực trụ cột như năng lượng, công nghiệp, nông lâm nghiệp và chất thải. Đây là lợi thế lớn để khai thác nguồn tài chính xanh từ thị trường carbon quốc tế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris. Dù vậy, khoảng cách từ tiềm năng đến một dự án carbon có thể giao dịch thương mại vẫn rất lớn. Để tối ưu hóa nguồn thu carbon, tiếp cận công nghệ mới và đáp ứng chuẩn mực toàn cầu, doanh nghiệp phải bắt đầu với việc tuân thủ chặt chẽ yêu cầu pháp lý trong nước cũng như các tiêu chuẩn tạo tín chỉ theo Điều 6...

VnEconomy Lộ trình chuyển đổi cho doanh nghiệp theo Nghị định thư Montreal

Những cam kết trong Nghị định thư Montreal đặt ra bài toán phải chuyển đổi công nghệ cho các doanh nghiệp lĩnh vực điều hòa không khí di động, không khí gia dụng; lĩnh vực thiết bị lạnh công nghiệp, lạnh thương mại. Dự án "Quản lý bền vững các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal" vừa chính thức được khởi động nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, đáp ứng các cam kết quốc tế.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy