Phát biểu tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) 2025 với chủ đề “Doanh nghiệp đồng hành với Chính phủ chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số” chiều ngày 11/10, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao vai trò lịch sử của VBF. Từ năm 1997 đến nay, VBF đã khẳng định là một “hình mẫu” cho cơ chế đối thoại và hợp tác hiệu quả giữa Chính phủ, các đối tác phát triển, và cộng đồng doanh nghiệp.
Đây không chỉ là một diễn đàn để lắng nghe, mà còn là nơi “đối thoại củng cố niềm tin”, là nền tảng để “đoàn kết mang lại sức mạnh” và “hợp tác mang lại lợi ích”. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, chủ đề của VBF 2025 - tập trung vào chuyển đổi xanh và chuyển đổi số - được Thủ tướng đánh giá là “mang tính thời sự và ý nghĩa sâu sắc”.
Đây không chỉ là xu thế toàn cầu, mà còn là “quyết tâm chính trị” và “hành động” của Việt Nam trong việc làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và khai thác hiệu quả các động lực mới. Đó là con đường để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.
Chia sẻ về những thành tựu phát triển ấn tượng của Việt Nam, đặc biệt là trong 5 năm qua, Thủ tướng trân trọng cảm ơn sự ủng hộ của bạn bè quốc tế và sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, nhấn mạnh rằng khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp FDI, đã “đóng góp rất quan trọng” cho nền kinh tế.
“5 năm qua, kinh tế Việt Nam khẳng định đủ sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, duy trì tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới,” Thủ tướng nhấn mạnh.
Trong bối cảnh nhiều thách thức và khó khăn, GDP năm 2025 dự kiến tăng trên 8%. Tính chung cả giai đoạn 2021-2025, tăng trưởng bình quân đạt 6,3%. Con số này càng ý nghĩa hơn khi biết rằng năm 2021, do ảnh hưởng nặng nề của Covid-19, tăng trưởng chỉ đạt 2,55%. Điều này có nghĩa là, trong 4 năm (2022-2025), tăng trưởng bình quân đã bứt phá ở mức 7,2%/năm, vượt mục tiêu 6,5-7% đề ra.
Cùng với đó, nền tảng vĩ mô được giữ vững, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm như “thu đủ chi” (thu ngân sách trung bình tăng 20% mỗi năm), “xuất đủ nhập” và thặng dư, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và cân đối cung cầu lao động đều được giữ vững.
Riêng an sinh xã hội, giai đoạn 2021-2025, ngân sách nhà nước đã chi khoảng 1,1 triệu tỷ đồng cho các chính sách an sinh xã hội, chiếm gần 17% tổng chi. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam thăng hạng ấn tượng, tăng 37 bậc, từ 83 (năm 2020) lên 46 (năm 2025).
Cùng với đó là nền tảng chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường, và vị thế đối ngoại được nâng cao. Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với 38 nước, bao gồm cả 5/5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và 17 thành viên G20.
Bên cạnh những kết quả trên, nội dung lớn thứ hai được Thủ tướng nhấn mạnh là những nỗ lực và kết quả trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Theo Thủ tướng, đây không chỉ là những cải cách đơn lẻ, mà là một “chuyển đổi mang tính cách mạng”.
Trong đó, trọng tâm là việc triển khai quyết liệt tinh gọn bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Đây là sự chuyển đổi căn bản từ “quản lý hành chính sang phục vụ Nhân dân và kiến tạo phát triển”.
Trong một thời gian rất ngắn, Bộ Chính trị đã ban hành một loạt Nghị quyết chiến lược quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực như Nghị quyết 57 (khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số), Nghị quyết 59 (hội nhập quốc tế), Nghị quyết 66 (xây dựng và thực thi pháp luật), Nghị quyết 68 (kinh tế tư nhân), Nghị quyết 70 (an ninh năng lượng), Nghị quyết 71 (giáo dục), và Nghị quyết 72 (y tế). Các nghị quyết về kinh tế nhà nước, FDI, và văn hóa cũng đang được xây dựng.
Song song với đó, cải cách thể chế diễn ra mạnh mẽ tại Quốc hội, với các kỳ họp lập kỷ lục về số lượng luật và nghị quyết được thông qua, nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn” pháp lý. Thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hóa.
Kết quả của những nỗ lực này là Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2025 xếp hạng 44/139; Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử năm 2024 xếp hạng 71/193, tăng 15 bậc so với 2020.
Dù ghi nhận các thành tựu, Thủ tướng cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế. Trong đó, ở khu vực FDI, chất lượng và trình độ công nghệ một số dự án còn hạn chế, tỷ lệ nội địa hóa thấp, số dự án công nghệ cao, xanh, sạch còn khiêm tốn, và vấn đề thiếu hụt nhân lực chất lượng cao.
Về những định hướng lớn trong thời gian tới, với mục tiêu tổng quát là “ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô”, Thủ tướng cho biết, Việt Nam xác định 2 mục tiêu chiến lược 100 năm; phấn đấu tăng trưởng 8% trong năm 2025, 2 con số trong những giai đoạn tiếp theo và nếu không có gì quá biến động, năm 2025, nhiều khả năng Việt Nam sẽ đạt mục tiêu tăng trưởng trên 8%.
Để làm được điều này, Việt Nam sẽ tập trung vào việc làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng) và đồng thời khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới. Thủ tướng nhấn mạnh, trong bối cảnh nợ công nhiều nước ở mức cao, Việt Nam sẽ tiếp tục giữ ổn định vĩ mô làm tiền đề hoạch định chính sách tiền tệ linh hoạt và chính sách tài khóa mở rộng có trọng điểm.
Việt Nam sẽ thực hiện 3 đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng với tinh thần “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, nhân lực và quản trị thông minh”. Các động lực tăng trưởng mới nổi được xác định rõ là công nghệ sinh học, AI, chip bán dẫn, năng lượng mới, và năng lượng tái tạo.
Về chuyển đổi số và xanh, Thủ tướng khẳng định đây là “yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu”. Ông mong muốn các đối tác, doanh nghiệp FDI tiếp tục hỗ trợ Việt Nam về vốn, thể chế, công nghệ, quản trị và đào tạo nhân lực cho hai cuộc chuyển đổi này. Trong đó, các doanh nghiệp FDI “tiên phong, dẫn dắt” trong chuyển đổi xanh và kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước cùng thực hiện. Phát triển bền vững theo tiêu chí ESG (Enviromental-Môi trường; Social-Xã hội); xây dựng chiến lược kinh doanh lâu dài, bền vững, thân thiện môi trường theo hướng giảm phát thải, đổi mới mô hình sản xuất kinh doanh, tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với phát triển theo kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và ứng phó biến đổi khí hậu...
Trên tinh thần đó, Chính phủ cam kết tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, chuyển mạnh từ “tiền kiểm sang hậu kiểm”, xây dựng “một cửa quốc gia về đầu tư”, thúc đẩy xây dựng Chính phủ số và cơ sở dữ liệu quốc gia “đúng-đủ-sạch-sống”. Đặc biệt, Chính phủ sẽ xây dựng bộ công cụ pháp lý về “công dân xanh, doanh nghiệp xanh” hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế.
Về nguồn nhân lực, Chính phủ sẽ tăng cường hợp tác 3 Nhà (Nhà nước - Doanh nghiệp - Nhà trường) để đón đầu FDI chất lượng cao. Về hạ tầng, trọng tâm là hạ tầng xanh, hạ tầng số (logistics, 5G, điện toán đám mây).
Đối với các kiến nghị của doanh nghiệp, Thủ tướng khẳng định tinh thần “không có gì là không thể”, “cùng lắng nghe, cùng thấu hiểu, cùng niềm tin, cùng khát vọng, cùng làm, cùng thắng, cùng hưởng”, “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”.
Trong các thương vụ huy động vốn, IPO hay mở rộng chuỗi cung ứng quốc tế, thông tin phát triển bền vững đang dần trở thành một phần của đối thoại tài chính. Với sự ra đời của IFRS S1 và IFRS S2, doanh nghiệp không chỉ được yêu cầu công bố nhiều thông tin hơn, mà còn phải chứng minh các rủi ro và cơ hội về phát triển bền vững có thể tác động như thế nào đến triển vọng kinh doanh và khả năng tiếp cận vốn…
Với kết quả phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu tỉnh tiếp tục bứt phá về tăng trưởng, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, phát triển hạ tầng chiến lược và chuẩn bị Đề án xây dựng Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương mang đặc trưng đô thị di sản vào năm 2030.
Nghệ An đang tập trung tháo gỡ những khó khăn về quy trình, thủ tục trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và di dời hạ tầng kỹ thuật phục vụ Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Việc lựa chọn phương án triển khai phù hợp được xem là giải pháp quan trọng để bảo đảm tiến độ dự án.
Dù hiện tại số lượng doanh nghiệp Nhà nước chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế song khu vực này vẫn đang nắm giữ nguồn lực lớn trong các ngành và lĩnh vực then chốt. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, việc tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước không còn dừng lại ở yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động đơn thuần, mà phải hướng tới sự tinh gọn, hiệu quả và phát huy tối đa vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực chiến lược…
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Từng bị xem là loài cỏ dại mọc ven bờ ruộng, rau má ở làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa) nay đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều hộ dân, mang lại nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Sự chuyển đổi từ những ruộng hoa màu kém hiệu quả sang trồng rau má không chỉ nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất mà còn góp phần gìn giữ một loài cây đã gắn bó với vùng đất cổ suốt hàng nghìn năm.