“Khu công nghiệp và khu kinh tế từ lâu đã trở thành một trong những động lực quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay, khoảng 70-80% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký mới trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tập trung vào các khu công nghiệp, khu kinh tế.
Theo Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện đóng góp khoảng 20% GDP, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm trực tiếp cho gần 3,83 triệu lao động. Những con số đó cho thấy khu công nghiệp tiếp tục giữ vai trò là một trong những động lực quan trọng đối với tăng trưởng công nghiệp và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Bối cảnh hiện nay cũng đang mở ra nhiều cơ hội mới. Năm 2025, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt hơn 38 tỷ USD, trong khi vốn thực hiện đạt trên 27,6 tỷ USD - mức cao nhất trong vòng 5 năm. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực thu hút nhiều vốn đầu tư nhất, chiếm hơn 56% tổng vốn đăng ký mới.
Cùng với đó, xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang đưa Việt Nam trở thành điểm đến của nhiều dự án công nghệ cao trong các lĩnh vực như bán dẫn, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và năng lượng tái tạo. Đến nay, lĩnh vực bán dẫn đã thu hút lũy kế hơn 14 tỷ USD với trên 240 dự án, trong khi các nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Hoa Kỳ và châu Âu tiếp tục coi Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Sự dịch chuyển của dòng vốn đầu tư cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với phát triển khu công nghiệp. Theo số liệu của Bộ Tài chính, cả nước hiện có gần 500 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích quy hoạch gần 150.000 ha, trong đó hơn 300 khu đã đi vào hoạt động. Trong thời gian tới, dự kiến sẽ tiếp tục thành lập hơn 200 khu công nghiệp mới với tổng diện tích trên 70.000 ha, kéo theo nhu cầu rất lớn về đầu tư hạ tầng.
Tuy nhiên, yêu cầu của giai đoạn mới không chỉ là mở rộng quy mô mà còn phải nâng cao chất lượng phát triển thông qua các mô hình khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp thông minh và khu công nghiệp phát triển theo yêu cầu của nhà đầu tư. Điều đó đòi hỏi quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, logistics, năng lượng và các nguồn lực phát triển phải được chuẩn bị đồng bộ ngay từ đầu.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển với mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục được xác định là động lực tăng trưởng chủ yếu. Để hiện thực hóa mục tiêu này, hệ thống khu công nghiệp cần tiếp tục đổi mới theo hướng đồng bộ hơn về quy hoạch và hạ tầng, thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, nâng cao năng lực tiếp nhận các dự án công nghệ cao, bán dẫn và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, môi trường đầu tư và thủ tục hành chính cũng cần tiếp tục được cải thiện để củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Khu công nghiệp không chỉ là nơi thu hút đầu tư và tổ chức sản xuất mà còn là nền tảng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới. Muốn làm được điều đó, quá trình phát triển khu công nghiệp cần được đặt trong tư duy dài hạn, gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch, hạ tầng, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chất lượng môi trường đầu tư, qua đó tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của nền công nghiệp Việt Nam”.
“Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang quyết tâm đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng mới; đồng thời, triển khai đồng bộ các chiến lược về chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi số, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thì cách tiếp cận đối với hạ tầng khu công nghiệp cũng cần phải thay đổi.
Hiện nay, hạ tầng khu công nghiệp không còn chỉ được nhìn nhận như điều kiện vật chất phục vụ sản xuất, mà phải trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế. Hạ tầng đó phải được hiểu theo nghĩa toàn diện, bao gồm hệ thống giao thông, năng lượng, cấp thoát nước, xử lý nước thải và chất thải rắn, hạ tầng số, logistics, kho bãi, trung tâm phân phối, các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, cũng như hệ thống dịch vụ đô thị và an sinh xã hội dành cho người lao động.
Quan trọng hơn, toàn bộ hệ thống này phải được quy hoạch, đầu tư và vận hành trên các nguyên tắc xanh, tuần hoàn, bền vững, thông minh và tích hợp.
Thực tiễn quốc tế cho thấy xu hướng phát triển khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp carbon thấp và khu công nghiệp thông minh đang diễn ra mạnh mẽ. Nhiều quốc gia đã xây dựng các bộ tiêu chí và hệ thống chứng nhận khu công nghiệp xanh; thúc đẩy các mô hình cộng sinh công nghiệp, trong đó chất thải của doanh nghiệp này trở thành nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp khác; mở rộng sử dụng năng lượng tái tạo; đồng thời, ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và các hệ thống giám sát thông minh để quản lý hạ tầng và môi trường. Đây đều là những kinh nghiệm rất quý để Việt Nam nghiên cứu, lựa chọn và vận dụng phù hợp với điều kiện phát triển của mình”.
“Nếu phải dùng một từ để lý giải điều mà các nhà đầu tư quốc tế tìm kiếm khi lựa chọn địa điểm đầu tư, đó chính là “niềm tin”.
Trong quá trình lựa chọn địa điểm đầu tư, doanh nghiệp vẫn xem xét hàng loạt yếu tố truyền thống như nguồn lao động, ưu đãi thuế, quỹ đất hay hạ tầng. Tuy nhiên, hiện nay, nhà đầu tư không chỉ hỏi liệu khu công nghiệp có đủ hạ tầng hay không, mà còn muốn biết liệu khu công nghiệp có đủ năng lực giúp họ đáp ứng các tiêu chuẩn ESG ngày càng khắt khe của các tập đoàn công nghệ toàn cầu, từ môi trường sản xuất, phát thải carbon cho đến các tiêu chuẩn về quản trị bền vững.
Một minh chứng mới nhất, đó là DEEP C vừa thu hút thành công một doanh nghiệp lớn của Hàn Quốc đầu tư vào dự án sản xuất linh kiện quan trọng phục vụ ngành chip AI. Họ cho biết “niềm tin” chính là lý do khiến họ quyết định chọn Hải Phòng và DEEP C thay vì nhiều địa điểm khác trong khu vực. Niềm tin đó được xây dựng từ khả năng đồng hành của nhà phát triển khu công nghiệp cùng nhà đầu tư trong suốt vòng đời dự án, đặc biệt là hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Một ví dụ khác là một tập đoàn điện tử hàng đầu Đài Loan - đối tác cung ứng cho Apple, Sony và Microsoft. Cũng tương tự, điều họ quan tâm nhất là liệu DEEP C có đủ năng lực giúp họ đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội, quản trị) ngày càng khắt khe của các tập đoàn công nghệ toàn cầu, từ môi trường sản xuất, phát thải carbon cho đến các tiêu chuẩn về quản trị bền vững.
Đó là minh chứng rõ ràng cho thấy lợi thế cạnh tranh của khu công nghiệp hiện nay không còn nằm ở giá thuê đất hay ưu đãi đầu tư, mà ở khả năng trở thành đối tác phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trong bối cảnh các tập đoàn đa quốc gia ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn ESG trong chuỗi cung ứng, năng lực đáp ứng các mục tiêu giảm phát thải, sử dụng năng lượng sạch, quản lý môi trường và minh bạch thông tin sẽ trở thành yếu tố quyết định khả năng thu hút các dòng vốn FDI chất lượng cao của các khu công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới”.
“Tiêu chí phát triển khu công nghiệp đang có sự dịch chuyển rõ rệt. Đặc biệt trong bối cảnh chúng ta đang triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành những yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của khu công nghiệp.
Chẳng hạn như DEEP C cho thấy mô hình khu công nghiệp sinh thái đã và đang được triển khai với những cách tiếp cận rất cụ thể. Khi nhà đầu tư lựa chọn địa điểm sản xuất, ngoài hạ tầng kết nối, họ ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chuỗi cung ứng, khả năng bảo đảm nguyên liệu đầu vào, sử dụng năng lượng hiệu quả và giảm phát thải. Nếu như trước đây tiết kiệm năng lượng hay giảm phát thải chưa phải là tiêu chí nổi bật thì hiện nay những yếu tố này đã trở thành một phần trong quyết định đầu tư.
Tôi cũng rất quan tâm đến xu hướng chuyển đổi số trong phát triển khu công nghiệp. Ví dụ, VNPT cho thấy các công nghệ như bản sao số (Digital Twin) có thể hỗ trợ quản lý toàn bộ quá trình vận hành, từ năng lượng, điện, nước đến kiểm soát phát thải. Theo tôi, đây sẽ là một trong những hướng đi quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý và năng lực cạnh tranh của các khu công nghiệp trong thời gian tới.
Cùng với sự thay đổi về tiêu chí cạnh tranh, hệ thống pháp luật cũng đang có những chuyển động tích cực. Thời gian qua, nhiều nghị quyết của Trung ương, của Quốc hội cùng các luật như Luật Bảo vệ môi trường, các quy định liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu hay chuyển giao công nghệ đã và đang được sửa đổi, bổ sung theo hướng đồng bộ hơn để hỗ trợ phát triển kinh tế cũng như phát triển khu công nghiệp.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy khi những điểm nghẽn về thể chế đang từng bước được tháo gỡ thì thách thức lớn hơn hiện nay là nguồn nhân lực và năng lực tổ chức thực hiện. Các tiêu chí cạnh tranh của khu công nghiệp đã thay đổi, vì vậy chính quyền địa phương, ban quản lý khu công nghiệp cũng như các nhà phát triển hạ tầng cần chủ động thích ứng với những yêu cầu mới của nhà đầu tư. Nếu không chuẩn bị từ sớm về hạ tầng, nguồn nhân lực, năng lượng hay chuỗi cung ứng thì sẽ rất khó nâng cao năng lực cạnh tranh của khu công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt trong khu vực.
Một nội dung khác cần được nghiên cứu là định hướng phát triển các khu công nghiệp theo ngành, theo lĩnh vực chiến lược. Việt Nam đang triển khai nhiều chương trình lớn như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, phát triển công nghiệp vật liệu hay các ngành công nghệ cao.
Mỗi lĩnh vực đều có yêu cầu riêng về hạ tầng, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái doanh nghiệp. Vì vậy, cần tính đến việc hình thành những khu công nghiệp có định hướng chuyên ngành rõ ràng, thay vì phát triển theo mô hình tập hợp quá nhiều lĩnh vực sản xuất trong cùng một khu công nghiệp.
Khi các khu công nghiệp thích ứng tốt với những tiêu chí cạnh tranh mới, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội hơn để thu hút các dự án công nghệ cao, công nghiệp sạch, đồng thời tăng cường sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước theo đúng định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”.
“Nhiều năm trước, khi Việt Nam bắt đầu đẩy mạnh thu hút FDI, việc có được một nhà đầu tư đã là thành công. Khi đó, địa phương chưa có nhiều điều kiện để lựa chọn, còn doanh nghiệp cũng chủ động đầu tư gần như toàn bộ hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất. Nhà đầu tư không đặt quá nhiều câu hỏi về hệ sinh thái hay các dịch vụ đi kèm, bởi họ tự chuẩn bị phần lớn những điều kiện cần thiết cho dự án của mình.
Hiện nay, bối cảnh đã khác. Việt Nam đã xác định rõ định hướng phát triển công nghiệp theo hướng bền vững, lựa chọn có chọn lọc các dự án đầu tư có giá trị gia tăng cao và mang lại lợi ích lâu dài cho quốc gia cũng như từng địa phương. Chính định hướng này đang làm thay đổi tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư cũng như cách thức phát triển khu công nghiệp.
Chúng ta không còn chỉ hướng tới mục tiêu lấp đầy diện tích khu công nghiệp mà bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến chất lượng của dòng vốn đầu tư. Trong bối cảnh đó, các lĩnh vực như công nghệ cao, bán dẫn, công nghệ xanh hay các ngành công nghiệp chiến lược sẽ trở thành những hướng ưu tiên. Đây đều là những lĩnh vực hoàn toàn mới, đòi hỏi sự chuẩn bị đồng bộ từ thể chế, hạ tầng đến nguồn nhân lực và hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp.
Để đáp ứng được những yêu cầu này, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống. Không một địa phương hay một chủ đầu tư khu công nghiệp nào có thể tự mình tạo ra lợi thế cạnh tranh. Điều quan trọng là định hướng phát triển của Trung ương phải được cụ thể hóa thành định hướng phát triển của từng địa phương, từ đó hình thành những hệ sinh thái công nghiệp có bản sắc và lợi thế riêng.
Tôi cho rằng điều đáng ghi nhận là môi trường đầu tư của Việt Nam đã thay đổi rất nhanh trong những năm gần đây. Chính quyền các địa phương, ban quản lý khu kinh tế và các cơ quan quản lý nhà nước đã chủ động hơn trong cải cách thủ tục hành chính, đồng hành cùng doanh nghiệp và nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ đầu tư. Có những địa phương hiện nay xử lý các thủ tục cho dự án FDI với tốc độ rất nhanh, tạo điều kiện để doanh nghiệp sớm triển khai dự án và đưa nhà máy vào hoạt động.
Một thay đổi khác là tư duy quy hoạch đang dần chuyển sang cách tiếp cận có định hướng rõ ràng hơn. Không chỉ ở cấp tỉnh mà ngay cả cấp cơ sở cũng đang hình thành tư duy phát triển dựa trên lợi thế riêng của từng địa phương. Mỗi địa phương từng bước xác định rõ mình sẽ phát triển ngành công nghiệp nào, gắn với cảng biển, logistics, cụm công nghiệp hay chuỗi cung ứng nào, thay vì phát triển theo hướng dàn trải.
Khi mỗi địa phương đều xác định rõ bản sắc phát triển của mình, việc lựa chọn nhà đầu tư cũng sẽ trở nên thuận lợi hơn. Doanh nghiệp chỉ cần đối chiếu nhu cầu của mình với định hướng phát triển của địa phương để xác định nơi đầu tư phù hợp nhất. Đó sẽ là bước chuyển quan trọng trong thu hút đầu tư, từ cách tiếp cận mang tính vận động sang cách tiếp cận dựa trên chiến lược phát triển và sự phù hợp giữa nhu cầu của nhà đầu tư với lợi thế của từng địa phương”.
“Chúng ta cần định nghĩa lại khái niệm “kết nối” trong phát triển khu công nghiệp. Trước đây, khi nói đến hạ tầng kết nối, chúng ta thường nghĩ đến một tuyến đường dẫn vào khu công nghiệp hay khả năng lưu thông hàng hóa. Nhưng hiện nay, hạ tầng kết nối phải được hiểu rộng hơn, là một hệ thống hạ tầng tích hợp và bền vững, tạo thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh cho hoạt động đầu tư và sản xuất.
Ở góc độ hạ tầng cứng, kết nối không chỉ là đường giao thông mà còn là khả năng liên kết với các hành lang kinh tế, cảng biển, sân bay và mạng lưới logistics để doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Việt Nam đang có lợi thế rất lớn với hệ thống các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đây cũng là một trong những lý do quan trọng để nhiều nhà đầu tư quốc tế lựa chọn Việt Nam. Tuy nhiên, để biến lợi thế đó thành năng lực cạnh tranh thực sự, khu công nghiệp phải được đặt trong một hệ thống kết nối đồng bộ với logistics, xuất nhập khẩu và các trung tâm vận tải.
Ngay cả những yếu tố hạ tầng truyền thống cũng đang thay đổi rất nhanh. Trước đây, doanh nghiệp chỉ cần có điện để sản xuất. Hiện nay, họ không chỉ yêu cầu nguồn điện ổn định mà còn quan tâm đến điện sạch, điện xanh và tính bền vững của hệ thống năng lượng. Đây là sự thay đổi rất rõ trong tiêu chí lựa chọn địa điểm đầu tư.
Kết nối không chỉ là hạ tầng cứng mà còn là hạ tầng mềm. Phát triển khu công nghiệp ngày nay không còn là câu chuyện đầu tư hạ tầng để cho thuê đất mà phải xây dựng được một hệ sinh thái công nghiệp với đầy đủ các dịch vụ hỗ trợ, tiện ích và các yếu tố an sinh xã hội. Nếu nhìn theo 17 Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên hợp quốc, mục tiêu cuối cùng cũng chính là tăng cường sự kết nối và hợp tác. Sự kết nối phải được hình thành giữa Nhà nước, chính quyền địa phương, chủ đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp và cộng đồng để tạo ra một môi trường đầu tư đủ sức giữ chân các nhà đầu tư lâu dài.
Nhìn chung, để sẵn sàng đón các nhà đầu tư toàn cầu, các chủ đầu tư khu công nghiệp cần tập trung vào ba yếu tố cốt lõi.
Thứ nhất, chuẩn bị hạ tầng nhanh nhưng bền vững. Nhà đầu tư hiện nay yêu cầu sự sẵn sàng không chỉ là quỹ đất sạch mà còn là hệ thống điện, nước, hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ tư vấn pháp lý và khả năng đồng hành với doanh nghiệp ngay từ khi nhà đầu tư bắt đầu tìm hiểu thị trường Việt Nam.
Thứ hai, phát triển sản phẩm và dịch vụ linh hoạt theo nhu cầu của nhà đầu tư. Trước đây, sản phẩm của khu công nghiệp gần như chỉ có một lựa chọn là cho thuê đất, thì hiện nay, nhu cầu của nhà đầu tư đã đa dạng hơn rất nhiều. Nhiều doanh nghiệp muốn có nhà xưởng xây sẵn, nhà kho xây sẵn hoặc những mô hình đầu tư linh hoạt để có thể nhanh chóng đi vào sản xuất, giảm chi phí ban đầu và thử nghiệm thị trường trước khi mở rộng quy mô
Thứ ba, xây dựng một hệ sinh thái gắn kết cộng đồng, trong đó con người và an sinh xã hội giữ vai trò trung tâm”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 29-2026 phát hành ngày 20/07/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-29-2026.html



Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với TS.Vũ Việt Anh về câu chuyện thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ cũng như năng lực Lab-to-Market (L2M), đưa sản phẩm “từ phòng lab ra thị trường” của startup và xu hướng “doanh nghiệp một người” trong kỷ nguyên AI.
Luật Công nghiệp công nghệ số đã mở rộng phạm vi nhân lực công nghệ số chất lượng cao, không chỉ bao gồm người Việt Nam (cả trong và ngoài nước) mà còn cả chuyên gia nước ngoài đáp ứng các tiêu chí do Chính phủ Việt Nam quy định. Để thu hút lực lượng này, luật đưa ra hàng loạt chính sách ưu đãi...
Sau nửa thế kỷ phát triển, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) không chỉ góp phần đưa công nghệ hạt nhân vào y tế, nông nghiệp, công nghiệp và môi trường mà còn đang chuẩn bị nguồn nhân lực, công nghệ và hạ tầng để đồng hành cùng Chương trình điện hạt nhân quốc gia trong giai đoạn mới.
Chỉ còn chưa đầy 6 tháng trước khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) được thực thi đầy đủ. Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở tiêu chuẩn kỹ thuật mà ở tư duy, sự minh bạch và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, việc xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu chính xác là điều kiện tiên quyết để bảo vệ uy tín của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Nhu cầu nhà ở của đại đa số người dân lao động tại đô thị rất lớn nhưng nguồn cung nhà ở giá phù hợp lại vô cùng hạn chế. Trong khi đó, vẫn có nhiều khu đô thị bị bỏ hoang và hàng ngàn dự án vẫn “đắp chiếu” do vướng mắc pháp lý, tương đương với hàng triệu tỷ đồng đang bị “chôn” vào đất; quy hoạch đất đai cũng còn không ít bất cập; doanh nghiệp bất động sản gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai dự án…
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.