Ngày 29/7, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nêu rõ, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng liên quan trực tiếp tới đời sống, sinh kế của nhân dân và phát triển bền vững.
Theo đó, Kết luận số 75-KL/TW đặt ra nhiều chỉ tiêu định lượng trong giai đoạn 2026-2030. Trong đó, bảo đảm mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; kiểm soát nghiêm ngặt các nguồn thải. Toàn bộ nguồn nước thải và khí thải lớn sẽ được quan trắc tự động, tất cả cụm công nghiệp xử lý nước thải đạt quy chuẩn.
Việt Nam cũng đặt mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, với kinh tế xanh chiếm khoảng 10% GDP, tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt tối thiểu 26,1% và giảm phát thải khí nhà kính ít nhất 9% vào 2030.
Về chất lượng môi trường cũng được lượng hóa cụ thể như tối thiểu 80% số ngày trong năm tại các đô thị đặc biệt phải có chất lượng không khí ở mức tốt và trung bình. Tỷ lệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 95% tại đô thị và 85% ở nông thôn.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới có môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên, phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại; thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được xác định là nền tảng cho quá trình chuyển đổi xanh, nâng chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và trở thành một động lực phát triển mới của nền kinh tế.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, quy hoạch phát triển phải bảo đảm trong giới hạn sinh thái, chuyển từ tư duy xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa rủi ro, quản trị bằng dữ liệu và phát triển kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số xanh.
Đồng thời, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là yếu tố quan trọng bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế. Việt Nam tích cực tham gia sáng kiến, thỏa thuận và cơ chế hợp tác khu vực, toàn cầu nhằm nâng vai trò, vị thế quốc gia trong giải quyết các vấn đề toàn cầu.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Trung ương xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp.
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội; lan tỏa lối sống xanh, tiêu dùng bền vững; xây dựng ý thức tự giác, văn hóa môi trường trong toàn xã hội.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, siết chặt kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thứ ba, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngân sách nhà nước bố trí tối thiểu 2% tổng chi hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, bảo đảm giữ vai trò dẫn dắt; đồng thời huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, nguồn vốn quốc tế, các quỹ khí hậu toàn cầu, nguồn tài chính xanh.
Thứ tư, giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, kiểm soát chặt nguồn ô nhiễm. Tập trung giải quyết ô nhiễm không khí tại các đô thị đặc biệt; ô nhiễm tại các lưu vực sông, kênh, mương, hồ; ô nhiễm tại làng nghề, cụm công nghiệp, khu vực khai thác khoáng sản và khu vực tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật.
Thứ năm, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Thứ sáu, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai.
Thứ bảy, đẩy mạnh chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và quản lý phát thải khí nhà kính.
Thứ tám, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và nguồn nhân lực.
Thứ chín, đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế.
Trên tinh thần Kết luận, Chính phủ cũng xây dựng chương trình hành động để thể chế hóa các chủ trương, đồng thời lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các bộ ngành, địa phương...




Công nghiệp, xe điện, điều hòa không khí và trung tâm dữ liệu tiếp tục thúc đẩy sự gia tăng mạnh mẽ trong việc sử dụng điện trên toàn thế giới...
Những tiến bộ trong dữ liệu khí hậu, mô hình dự báo và phương pháp phân tích đang giúp các nhà khoa học ngày càng xác định rõ mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các hiện tượng thời tiết cực đoan. Các kết quả này không chỉ nâng cao hiểu biết về rủi ro khí hậu mà còn cung cấp cơ sở quan trọng cho hoạch định chính sách, đầu tư hạ tầng và tăng cường khả năng thích ứng trước các thiên tai ngày càng khốc liệt…
Ngoài nguy cơ hạn hán, lũ lụt và bão, hiện tượng "siêu" El Nino còn có thể làm hư hại cơ sở hạ tầng, gây sức ép lên ngân sách và hệ thống ngân hàng của các nước nghèo...
Biện pháp này bổ sung cho khung kiểm soát rủi ro hiện hành, đồng thời tăng cường khả năng chống chịu trong quá trình triển khai chính sách tiền tệ của ECB...
TP.Hồ Chí Minh đặt mục tiêu kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, cải thiện chất lượng nước tại các lưu vực sông, kênh, rạch và xây dựng hệ thống quan trắc đồng bộ, hướng tới quản lý môi trường nước bằng dữ liệu và công nghệ...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.