double-skinned crabsVietnamese crab exporter

Tái cơ cấu khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh: Ba hướng chuyển đổi lớn và những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Sau khi mở rộng địa giới hành chính, TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm công nghiệp lớn nhất Việt Nam, chiếm trên 20% giá trị sản phẩm công nghiệp cả nước...

Khu công nghiệp Hiệp Phước đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí, được lấy ý kiến các bộ ngành Trung ương và đang hoàn thiện hồ sơ để thành phố ban hành quyết định công nhận dự kiến trở thành khu công nghiệp sinh thái đầu tiên của cả nước.
Khu công nghiệp Hiệp Phước đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí, được lấy ý kiến các bộ ngành Trung ương và đang hoàn thiện hồ sơ để thành phố ban hành quyết định công nhận dự kiến trở thành khu công nghiệp sinh thái đầu tiên của cả nước.

Mô hình công nghiệp TP. Hồ Chí Minh định hướng hình thành theo ba trụ cột: Tập trung công nghiệp công nghệ cao, điện tử và chế biến thực phẩm; Bình Dương là vùng công nghiệp chế biến chế tạo, cơ khí, nội thất và công nghiệp hỗ trợ; Bà Rịa – Vũng Tàu với công nghiệp năng lượng, hóa dầu, luyện kim và cảng biển.

Sự hội tụ này tạo ra lợi thế hiếm có khi hội đủ cả công nghiệp công nghệ cao, chế biến chế tạo và công nghiệp nền tảng, nhưng cũng đặt ra thách thức khi một số ngành công nghiệp nặng còn có mức phát thải carbon cao, đòi hỏi chuyển đổi theo hướng phát triển bền vững.

BA HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI LỚN CỦA KHU CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ

Quá trình tái cơ cấu hệ thống khu chế xuất và khu công nghiệp (KCX-KCN) theo hướng sinh thái, xanh và thông minh là vấn đề mà Ban Quản lý các Khu chế xuất và Khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HEPZA) đang nghiên cứu để tham mưu cho thành phố xây dựng đề án triển khai.

Tại Hội thảo Khu Công nghiệp Net Zero do Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 10/7/2026, ông Trương Văn Phong, đại diện HEPZA đã khái quát tổng quan về hiện trạng, các hướng chuyển đổi đang triển khai và những thách thức thực tiễn.

Hiện toàn thành phố có 67 khu chế xuất và khu công nghiệp đã được thành lập, trong đó 58 khu đang hoạt động với tỷ lệ lấp đầy khoảng 70%; số còn lại đã được thành lập nhưng chưa hoạt động. Theo quy hoạch tầm nhìn đến năm 2050, thành phố sẽ phát triển tổng số 105 khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 50.000 ha - tức là từ nay đến năm 2050 sẽ phát triển thêm 38 khu với diện tích khoảng 23.000 ha. HEPZA đang hoàn thiện quy hoạch phân khu để làm cơ sở mời gọi đầu tư.

Quy hoạch phát triển KCN được gắn chặt với định hướng tổng thể của thành phố theo ba vùng: khu vực trung tâm phát triển theo hướng công nghiệp công nghệ cao; khu vực Bình Dương cũ là vùng công nghiệp chuyển đổi từ công nghiệp thông thường lên công nghiệp cao, kết hợp phát triển khu đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ ở phía bắc thành phố; khu vực Vũng Tàu cũ hướng đến kinh tế biển và khu thương mại tự do.

HEPZA hiện đang triển khai ba hướng chuyển đổi lớn gồm: Phát triển mô hình khu công nghiệp sinh thái; Chuyển đổi tổng thể hệ thống KCX-KCN gắn với tái cơ cấu ngành công nghiệp chủ lực, hướng đến khu công nghiệp sinh thái, xanh và thông minh; Chuyển đổi năng lượng để phát triển khu công nghiệp xanh.

NĂM THÁCH THỨC VỚI KCN SINH THÁI VÀ BỐN VƯỚNG MẮC VỀ ĐIỆN TÁI TẠO

Về mô hình khu công nghiệp sinh thái, HEPZA đã phối hợp với UNIDO, GIZ và nhiều đối tác thí điểm tại 5 khu trên địa bàn 3 tỉnh thành: VSIP và VSIP mở rộng, Cây Trường tại Bình Dương; Hiệp Phước tại TP. Hồ Chí Minh; Phú Mỹ 3 tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Đến nay, các khu này đã cơ bản đáp ứng các tiêu chí của khu công nghiệp sinh thái.

Ông Trương Văn Phong, Phó trưởng Ban HEPZA khái quát tổng quan về hiện trạng, các hướng chuyển đổi khu chế xuất, khu công nghiệp.
Ông Trương Văn Phong, Phó trưởng Ban HEPZA khái quát tổng quan về hiện trạng, các hướng chuyển đổi khu chế xuất, khu công nghiệp.

Đặc biệt, Khu công nghiệp Hiệp Phước đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí, được lấy ý kiến các bộ ngành Trung ương và đang hoàn thiện hồ sơ để thành phố ban hành quyết định công nhận trở thành khu công nghiệp sinh thái đầu tiên của cả nước, tạo nền tảng và định hình mô hình cho các khu công nghiệp phát triển về sau.

Tuy nhiên, ông Phong thẳng thắn cho biết mô hình thí điểm và nhân rộng khu công nghiệp sinh thái đang gặp 05 khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ.

Thứ nhất: Chi phí đầu tư vào công nghệ sinh thái rất cao, đòi hỏi nguồn vốn lớn để đáp ứng các tiêu chí.

Thứ hai: Cơ chế chính sách ưu đãi chưa đủ rõ ràng và hấp dẫn về thuế, đất đai và các ưu đãi khác.

Ông Phong nêu rõ, hiện nay động lực chủ yếu đến từ áp lực của chuỗi cung ứng xanh và yêu cầu từ các nhà mua hàng quốc tế, chứ chưa phải từ chính sách trong nước.

Thứ ba: Hạ tầng kỹ thuật của phần lớn KCN hiện tại đã cũ, đặc biệt tại TP.Hồ Chí Minh cũ và khu vực Dĩ An, Bình Dương, chi phí cải tạo rất lớn.

Thứ tư: Nguồn nhân lực để vận hành khu công nghiệp sinh thái và quản trị doanh nghiệp sinh thái còn thiếu, cần thời gian để đào tạo đội ngũ quản lý đủ năng lực.

Thứ năm: Việc thực hiện cộng sinh công nghiệp trong các KCN đang vướng khoảng trống pháp lý do các quy định cụ thể cho hoạt động này hiện chưa rõ ràng.

“Về mặt khái niệm, cộng sinh công nghiệp là đầu ra của doanh nghiệp này trở thành đầu vào của doanh nghiệp kia. Lấy ví dụ thực tiễn: một doanh nghiệp sản xuất túi nhựa có phát sinh phế liệu nhựa, những mảnh vụn, bavia thừa. Nếu doanh nghiệp tự sử dụng lại trong nội bộ thì đó là tái sử dụng nguyên liệu, không có vướng mắc. Nhưng nếu bán cho doanh nghiệp bên ngoài để làm hạt nhựa tái chế, hoạt động đó được phân loại là "tái chế phế liệu", và muốn làm tái chế phế liệu thì phải có quy hoạch ngành tái chế, phải có khu vực tập trung xử lý trong khu công nghiệp. Trong khi quy hoạch cho các khu xử lý và tái chế tập trung hiện còn rất hạn chế”, ông Phong phân tích, đồng thời cho biết đây là điểm vướng mắc pháp lý rất cụ thể và thiết thực mà chúng tôi đang gặp phải hàng ngày.

Về đề án chuyển đổi tổng thể hệ thống KCX-KCN, ông Phong nhấn mạnh đây là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu thành phố giao cho HEPZA. Vì là đề án đặc thù của TP.Hồ Chí Minh sau sáp nhập, mô hình này không hoàn toàn phù hợp để áp dụng cho Bình Dương hay Bà Rịa – Vũng Tàu, vì đặc thù kinh tế - xã hội mỗi nơi khác nhau.

Do đó, việc xây dựng Quy hoạch Hệ thống KCN – KCX đang phải đối diện với 2 thách thức lớn mang tính nền tảng.

Thứ nhất: Quy hoạch khung của thành phố sau sáp nhập chưa được phê duyệt, trong khi đây là căn cứ quan trọng để xây dựng đề án nhưng hiện chưa có để bám vào.

Thứ hai: Đề án tái cơ cấu cần đi trước quy hoạch, nhưng định hướng điều chỉnh quy hoạch chưa đủ rõ ràng, mặc dù định hướng chung của 3 vùng cũ vẫn được giữ nhưng sẽ cần điều chỉnh phù hợp với thành phố lớn hơn sau sáp nhập.

"Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ Viện Nghiên cứu phát triển thành phố, các nhà khoa học và chuyên gia để tham mưu cho thành phố với chất lượng cao hơn", ông Phong bày tỏ.

Về chuyển đổi năng lượng, hướng thứ ba và cũng là thách thức lớn nhất về mặt kỹ thuật và pháp lý, ông Phong cho rằng những điều chỉnh chính sách gần đây: Nghị định số 58/2025/NĐ-CP cho phép bán điện mặt trời mái nhà dư lên lưới với tỷ lệ tối đa 20%, và Nghị định 243/2026/NĐ-CP đã nâng tỷ lệ này lên 50%, đồng thời quy định chi tiết hơn về dự trữ năng lượng đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho bài toán tự chủ năng lượng tái tạo trong KCN. Tuy nhiên, thực tế trong các KCX-KCN, điện mặt trời mái nhà vẫn chủ yếu là tự sản tự tiêu.

Mô hình doanh nghiệp sản xuất điện tái tạo và bán cho doanh nghiệp khác trong cùng khu vẫn chưa triển khai được do bốn vướng mắc.

Thứ nhất: Về cơ chế bán điện: hiện cơ chế để một doanh nghiệp bán điện cho doanh nghiệp khác trong cùng khu công nghiệp chưa được quy định rõ và chưa thực sự tháo gỡ được.

Thứ hai: Về hành lang pháp lý đầu tư: một dự án điện mặt trời mái nhà trong khu công nghiệp liên quan đến nhiều quy định chồng chéo về đất đai, đầu tư, môi trường và đấu nối lưới điện — câu hỏi "đất lắp đặt hệ thống điện mặt trời là đất năng lượng hay đất hạ tầng kỹ thuật" chưa có lời giải rõ ràng, trong khi hai loại đất có quy định hoàn toàn khác nhau.

Thứ ba: Về quy trình kỹ thuật: các tiêu chuẩn về lắp đặt, đấu nối và kiểm định hệ thống điện mặt trời mái nhà trong khu công nghiệp chưa đủ rõ ràng, còn nhiều điểm khiến doanh nghiệp e ngại.

Thứ tư: Về giá bán điện: cơ chế định giá cụ thể hiện chưa đủ rõ ràng và hấp dẫn để doanh nghiệp quyết định đầu tư quy mô lớn.

"Tôi rất mong rằng từ kết quả của hội thảo này, các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các sở ngành sẽ có những đúc kết và kiến nghị cụ thể gửi đến các bộ ngành Trung ương và thành phố. Mục tiêu là có những cơ chế chính sách thực sự tháo gỡ được các vướng mắc nêu trên, để thực tế triển khai được thuận lợi hơn và đóng góp có hiệu quả vào quá trình chuyển đổi năng lượng, thúc đẩy phát triển các khu công nghiệp xanh trong thời gian tới", ông Phong nhấn mạnh.

Khởi động Dự án NDC-TIA II thúc đẩy giao thông xanh và giảm phát thải tại Việt Nam

Việt Nam đang đẩy mạnh hoàn thiện chính sách và khung kỹ thuật nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh trong lĩnh vực giao thông vận tải, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Với sự hỗ trợ của Chính phủ Đức, dự án NDC-TIA II sẽ góp phần hoàn thiện thể chế, thúc đẩy điện khí hóa phương tiện và phát triển hệ sinh thái giao thông phát thải thấp...

Cơ chế mới về giá điện: Linh hoạt nhưng kiểm soát chặt

Các quy định mới tại Nghị định 278/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ, giúp việc điều chỉnh giá điện diễn ra linh hoạt theo tín hiệu thị trường nhưng vẫn dưới sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước…

Petrovietnam giữ vững vai trò trụ cột bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế  

Giữa bối cảnh thị trường năng lượng thế giới nhiều biến động, Petrovietnam vẫn duy trì đà tăng trưởng về sản xuất, kinh doanh và đầu tư, tạo động lực phát triển mới. Theo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc, kết quả này khẳng định vai trò của Tập đoàn trong ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và giữ vững an ninh năng lượng quốc gia.

Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy