“Về chiến lược cho kinh tế không gian hay kinh tế tầm thấp, tôi cho rằng không chỉ cần một chiến lược kinh tế mà phải là chiến lược phát triển tổng thể cho lĩnh vực này, gồm hai cấu phần.
Một là, chiến lược phát triển công nghệ. Chúng ta phải xác định lựa chọn công nghệ gì, tham gia vào khâu nào, đứng ở đâu trong chuỗi công nghệ và đảm nhận phần nào trong các thiết bị của lĩnh vực không gian vũ trụ và không gian tầm thấp.
Chúng ta có nên sản xuất tất cả các chi tiết hay không? Theo tôi là không. Nhưng với “linh hồn” của sản phẩm, đó là phần mềm, hệ thống điều khiển và trí tuệ, tôi nghĩ Việt Nam có khả năng làm chủ. Vì vậy, chiến lược công nghệ phải xác định rõ chúng ta đứng ở đâu, làm gì và tập trung vào hướng nào. Đây là cấu phần quan trọng đầu tiên.
Hai là, chiến lược về kinh tế. Khi đã sản xuất được sản phẩm thì sản phẩm đó được sử dụng vào đâu, có thị trường hay không, những doanh nghiệp nào được tham gia lĩnh vực này, cạnh tranh như thế nào và có những nguồn lực nào hỗ trợ phát triển. Chiến lược kinh tế phải hỗ trợ để chiến lược công nghệ trở thành hiện thực.
Vì vậy, chiến lược phát triển lĩnh vực này phải bao hàm cả hai góc độ: công nghệ và kinh tế; không thể chỉ tập trung vào kinh tế, cũng không thể đơn độc phát triển công nghệ.
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã đi trước trong việc xây dựng chiến lược. Năm 2024, Trung Quốc xác định kinh tế tầm thấp là một động lực tăng trưởng mới. Đến nay, Trung Quốc đã thành lập cơ quan chuyên trách về phát triển kinh tế tầm thấp, cho thấy tốc độ xúc tiến rất nhanh.
Tại Anh, quốc gia này cũng đã có chiến lược phát triển không gian vũ trụ và đang tiếp tục tăng mạnh đầu tư, chính sách cho lĩnh vực này. Điều đó cho thấy sự thay đổi trong tư duy chiến lược nhằm tạo ra một không gian phát triển mới.
Có thể thấy, thế giới hiện không còn coi kinh tế không gian vũ trụ hay kinh tế tầm thấp là những lĩnh vực mang tính thử nghiệm. Các lĩnh vực này đang chuyển sang giai đoạn phát triển thực tế và trở thành những ngành kinh tế mới. Khi đã bước vào giai đoạn phát triển thực tế thì cần phải có chiến lược.
Vì vậy, Việt Nam cần có chiến lược ngay từ thời điểm này, nếu không sẽ có nguy cơ chậm chân, chiến lược đó, cần có hai cấu phần như đã nêu trên.
Đối với chiến lược công nghệ, phải xác định chúng ta làm gì, tham gia vào đâu và đi theo hướng nào. Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược kinh tế để hình thành thị trường và thúc đẩy phát triển.
Hiện nay, Việt Nam chưa có một chiến lược tổng thể cho lĩnh vực này, nhưng đã có những chính sách và định hướng nằm ở từng mảnh ghép khác nhau. Năm 2021, chúng ta có Quyết định số 169/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Ban hành Chiến lược phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ vũ trụ đến năm 2030. Đây là một định hướng quan trọng nhưng chưa phải là một chiến lược tổng thể.
Đối với UAV, sản phẩm này đã được đưa vào danh mục 35 sản phẩm công nghệ chiến lược. Đây cũng mới là một chính sách riêng đối với một nhóm sản phẩm, chưa hình thành thành chiến lược phát triển toàn ngành.
Chúng ta cũng đã có các mô hình sandbox tại một số địa phương, nhưng vẫn còn rời rạc, chưa trở thành một tổng thể. Nếu xây dựng một chiến lược thực sự thì phải trả lời được câu hỏi phát triển toàn bộ ngành, lĩnh vực này như thế nào và hướng đi trong dài hạn ra sao.
Như vậy, Việt Nam đã có những mảnh ghép ban đầu, nhưng các mảnh ghép vẫn còn phân tán. Tôi rất kỳ vọng Việt Nam sẽ sớm xây dựng được một chiến lược tổng thể, từ phát triển công nghệ, phát triển thị trường đến ứng dụng trong các ngành, lĩnh vực, qua đó tạo nền tảng cho kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp phát triển trong thời gian tới”.
“Một ngành công nghiệp mới không thể hình thành từ một chính sách đơn lẻ hay những chủ thể hoạt động rời rạc. Vì vậy, để phát triển kinh tế tầm thấp, Việt Nam cần xây dựng một mô hình hợp tác, trong đó mỗi chủ thể đảm nhận một vai trò rõ ràng và bổ trợ cho nhau.
Trước hết, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, hạ tầng và thị trường ban đầu; doanh nghiệp tập trung phát triển sản phẩm, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ. Các viện, trường đảm nhiệm nghiên cứu và phát triển công nghệ lõi, đồng thời đào tạo nguồn nhân lực. Nhân lực cho kinh tế tầm thấp không chỉ gồm đội ngũ nghiên cứu, kỹ sư phát triển sản phẩm mà còn có lực lượng có kỹ năng vận hành, điều khiển phương tiện và cung cấp các dịch vụ trong hệ sinh thái này.
Các bộ, ngành thực hiện chức năng quản lý, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hàng không và phát triển những hạ tầng nền tảng cho kinh tế tầm thấp. Bộ Khoa học và Công nghệ có thể đóng vai trò đầu mối kết nối hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), xây dựng tiêu chuẩn, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển các nền tảng dùng chung và hỗ trợ địa phương triển khai các mô hình thử nghiệm, mô hình mới. Trong khi đó, địa phương giữ vai trò quan trọng khi cung cấp các bài toán thực tiễn và môi trường để thử nghiệm giải pháp, dịch vụ.
Kinh tế tầm thấp là lĩnh vực mới, đa ngành, đa lĩnh vực, do đó có thể cần một cơ chế điều phối liên ngành để xử lý các vấn đề phát sinh và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tham gia.
Quan trọng nhất, hệ sinh thái này phải bắt đầu từ nhu cầu thực tiễn, chứ không phải từ những công nghệ đang có. Từ các bài toán cụ thể trong nông nghiệp, logistics, năng lượng, y tế, cứu hộ,... cần hình thành một chu trình từ đặt hàng, nghiên cứu, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa đến thương mại hóa.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là sản xuất UAV hay vệ tinh, mà là hình thành năng lực quốc gia để khai thác một không gian phát triển kinh tế mới bằng công nghệ, dữ liệu và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời bảo đảm chủ quyền, an toàn và lợi ích quốc gia trong quá trình này”.
“Khoảng 20 năm trước, khi chúng tôi bắt đầu nghiên cứu vệ tinh, việc tiếp cận linh kiện cho vệ tinh thực sự rất khó khăn. Khoảng 10 năm gần đây, việc thương mại hóa các linh kiện, thiết bị phục vụ phát triển vệ tinh đã thuận lợi hơn rất nhiều.
Tuy nhiên, một số module vẫn bị hạn chế xuất khẩu hoặc chịu các quy định kiểm soát như ITAR, EAR do thị trường này tương đối đặc thù. Nhất là đối với các hệ thống vệ tinh có tính năng cao, việc tiếp cận một số linh kiện, cảm biến và công nghệ liên quan thường khó khăn hơn. Đối với các vệ tinh có yêu cầu ở mức thông dụng, cơ bản, chúng tôi có thể mua được các linh kiện cần thiết.
Trên tinh thần tối ưu quá trình phát triển cả về thời gian và chi phí, nếu tất cả đều tự làm từ đầu thì thời gian phát triển sẽ rất lâu, chi phí đầu tư lớn và sản phẩm cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Đặc thù của ngành công nghệ vệ tinh, công nghệ vũ trụ là mức độ trưởng thành công nghệ được chia thành 9 bậc TRL. Các thiết bị sử dụng cho vệ tinh thường ưu tiên những công nghệ có TRL cao, đã được kiểm chứng trong môi trường phù hợp, đặc biệt là những thiết bị đã có kinh nghiệm bay hoặc được kiểm chứng trên quỹ đạo. Vì vậy, để dự án phát triển bền vững, chúng tôi ưu tiên sử dụng các thiết bị đã có mức độ trưởng thành công nghệ cao.
Đối với những công nghệ Việt Nam đang hướng tới làm chủ, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam sẽ từng bước làm chủ máy tính điều khiển trung tâm, hệ thống truyền dẫn, khung vỏ và cấu trúc. Vệ tinh là một sản phẩm mang tính “may đo”, mỗi vệ tinh có đặc điểm khác nhau. Vì vậy, đây là những năng lực chúng ta cần từng bước chủ động làm chủ, tương tự như năng lực thiết kế hệ thống.
Hiện nay, chúng tôi đã làm chủ máy tính điều khiển trung tâm cùng các hệ thống phần mềm điều khiển, đồng thời đang tiếp cận để làm chủ hệ thống truyền dẫn. Hệ thống truyền dẫn có mức độ phức tạp và yêu cầu công nghệ cao hơn.
Một khó khăn khác của chúng tôi là dữ liệu thực tế. Với UAV, có thể chỉ cần thực hiện một chuyến bay là có dữ liệu. Để có được dữ liệu thực tế từ vệ tinh thì khó hơn rất nhiều. Hiện nay, chúng tôi đã tham gia phát triển ba vệ tinh, nhưng lượng dữ liệu trên quỹ đạo thu được từ những vệ tinh do Việt Nam tự phát triển vẫn còn ít. Với những vệ tinh mua hoặc nhận chuyển giao, chúng ta có dữ liệu khai thác, nhưng chỉ khi tự phát triển vệ tinh, chúng ta mới có thể chủ động lựa chọn những thông số cần thiết và so sánh giữa kết quả mô phỏng với thực tế.
Để phát triển phần mềm bay, chúng ta cần dữ liệu thực tế theo đúng yêu cầu và chương trình do mình xây dựng. Những dữ liệu này phải được tự tích lũy qua quá trình nghiên cứu và phát triển. Trong thực tế, các công nghệ cốt lõi tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thường chỉ được chuyển giao ở một mức độ nhất định.
Đây cũng là hướng chúng tôi đang theo đuổi. Trong chương trình phát triển công nghệ chiến lược, chúng tôi dự kiến tiếp tục phát triển hai vệ tinh có khối lượng dưới 100 kg. Kỳ vọng thông qua chương trình này, tốc độ phát triển và làm chủ công nghệ vệ tinh của Việt Nam sẽ được đẩy nhanh hơn”.
“Việt Nam đang có cơ hội vàng khi thị trường phương tiện bay không người lái (UAV) đang mở ra nhiều dư địa trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới tìm nguồn cung ứng thay thế nguồn cung ứng từ Trung Quốc. Trong khi đó, Việt Nam sở hữu nguồn nhân lực tri thức cao, năng lực sản xuất từ các khu công nghiệp, cùng thế mạnh từ cơ khí chính xác, phần mềm, phần cứng đến AI, blockchain. Tất cả đều đã đạt được những yếu tố về chất lượng, hiệu quả và giá thành chấp nhận được.
Bên cạnh đó, lớp tri thức trẻ của Việt Nam hiện nay đang được đào tạo theo các chương trình tiên tiến tại các trường đại học có uy tín trong nước cũng như các trường nổi tiếng ở nước ngoài, nhằm phục vụ cho nền kinh tế tầm thấp. Lực lượng này cũng đã có những giải pháp hữu ích, với các bằng sáng chế được giới khoa học trong và ngoài nước công nhận. Do vậy, chúng ta hoàn toàn có cơ hội để từng bước làm chủ công nghệ ứng dụng khi tham gia vào lực lượng lao động chất lượng cao của kinh tế tầm thấp tại Việt Nam.
Liên quan đến việc làm chủ các công nghệ lõi của lĩnh vực hàng không dân dụng, vũ trụ và phương tiện bay không người lái, hiện nay Việt Nam đang từng bước làm chủ và tiếp cận công nghệ của thế giới.
Thứ nhất, ngành công nghiệp bán dẫn, thiết kế vi mạch bán dẫn tại Việt Nam hiện nay đang trải qua giai đoạn phát triển rất mạnh mẽ và hứa hẹn sẽ tạo ra nhiều cơ hội trong chuỗi cung ứng vật tư cho ngành kinh tế không gian vũ trụ, phương tiện bay không người lái cũng như kinh tế tầm thấp.
Gần đây nhất, ngày 16/5/2026, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội Viettel đã chính thức khởi công xây dựng nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng. Lần đầu tiên Việt Nam hình thành năng lực chế tạo chip bán dẫn trong nước, tạo nền tảng và mục tiêu để từng bước làm chủ công nghệ lõi và phát triển hệ sinh thái bán dẫn trong nước.
Thứ hai, về công nghệ viễn thông 5G và tiến tới 6G tại Việt Nam, để điều khiển phương tiện bay không người lái ngoài tầm nhìn thẳng cũng như truyền dữ liệu băng thông rộng, tốc độ cao, kết nối diện rộng ở tầm cao, độ cao tầm thấp, các nhà mạng viễn thông trong nước hoàn toàn có khả năng đáp ứng. Chỉ sau hơn một năm thương mại hóa, Việt Nam đã đạt 92% dân số được phủ sóng 5G, với tốc độ nhanh gấp hai lần so với các nước đang phát triển. Hiện nay, tốc độ băng thông di động của Việt Nam đã đạt 210,85 MB/giây và xếp thứ chín trên thế giới.
Về năng lực làm chủ công nghệ, trước đây Việt Nam mất 8 năm để làm chủ thiết bị 4G, nhưng hiện nay chỉ mất gần 2 năm để làm chủ công nghệ sản xuất trạm 5G và chuẩn bị sẵn sàng cho thế hệ tiếp theo là mạng 6G.
Thứ ba, Việt Nam cũng đang trên đà phát triển mạnh mẽ về nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực để khai thác trí tuệ nhân tạo (AI). Các khoản đầu tư lớn của một số tập đoàn uy tín ở nước ngoài cũng đã được triển khai nhằm phục vụ cho công cuộc phát triển AI, blockchain, khai phá dữ liệu big data. Kết quả là nhiều công trình đã được đưa vào ứng dụng, vận hành thành công như Viettel AI”.
“Trong quá trình phát triển UAV, chúng tôi nhận thấy có nhiều sản phẩm, module và linh kiện bên trong nếu không làm chủ sẽ là rủi ro đối với an ninh, quốc phòng. Vì thế, một trong những mục tiêu được HTI đặt ra ngay từ khi bắt đầu nghiên cứu UAV là làm chủ một số cấu phần quan trọng như hệ thống điều khiển, flight controller và một số cảm biến. Tiến tới, mục tiêu tiếp theo là tự phát triển các module quan trọng khác như hệ thống truyền dẫn, hệ thống điện - điện tử trên các thiết bị bay.
Với những phần chưa thể tự làm chủ, công ty cũng tìm kiếm một số đối tác trong và ngoài nước để đặt hàng sản xuất. Tuy nhiên, thực tế phát sinh nhiều vướng mắc liên quan đến đăng kiểm, kiểm tra và các thủ tục giấy tờ. Nếu chỉ sản xuất đơn lẻ, rất khó để đối tác thương mại hóa sản phẩm nên họ không nhận.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, HTI đã có một đơn vị đồng hành trong nghiên cứu và phát triển hệ thống truyền dẫn. Đơn vị này sẽ đứng phía sau để nghiên cứu, phát triển sản phẩm, còn HTI chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường. Chúng tôi kỳ vọng khoảng tháng 9/2026, tại triển lãm về UAV ở Việt Nam, những giới thiệu đầu tiên về hệ thống truyền dẫn do người Việt Nam tự nghiên cứu, phát triển, phục vụ cho các sản phẩm của HTI sẽ được công bố.
Ở giai đoạn đầu, chúng tôi xác định rõ rằng mình đi sau, nguồn lực hạn chế và còn nhiều khó khăn. Vì vậy, mục tiêu trước mắt không phải là ngay lập tức phát minh ra những công nghệ hoàn toàn mới hay làm chủ những công nghệ sâu nhất, mà là tạo ra được sản phẩm có thể hoạt động tốt, các module có thể tích hợp với nhau và đáp ứng đúng yêu cầu ứng dụng.
Có thể làm lại, có thể cải tiến những gì thế giới đã có. Trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, khi phát sinh những vấn đề, những điểm nghẽn chưa giải quyết được, chúng tôi sẽ từng bước xử lý. Chính quá trình giải quyết các bài toán thực tế cũng sẽ giúp doanh nghiệp dần làm chủ những phần công nghệ sâu hơn. Nếu ngay từ đầu đều tập trung vào làm ra công nghệ lõi sâu nhất thì có thể chúng ta sẽ mất rất nhiều thời gian, trong khi thế giới vẫn đang tiến lên rất nhanh.
Ở thời điểm hiện tại, phần lớn công nghệ của HTI vẫn là tiếp thu, làm chủ và phát triển lại những gì thế giới đã có, sau đó tối ưu cho các bài toán và nhu cầu của khách hàng. Đây là thực tế mà doanh nghiệp nhìn nhận khá thẳng thắn. Mục tiêu trước mắt là làm chủ ngày càng nhiều thành phần quan trọng, từng bước nâng tỷ lệ nội địa hóa và tiến tới phát triển những công nghệ sâu hơn.
Mặc dù năng lực tự sản xuất phần cứng trong nước vẫn đang đi sau, nhưng phần mềm lại là câu chuyện khác, đặc biệt là AI. Không chỉ HTI mà nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực này đang có những kỹ sư, nhóm phát triển rất giỏi. Trong quá trình sử dụng và đánh giá nhiều hệ thống khác nhau, chúng tôi nhận thấy có những sản phẩm phần mềm nước ngoài rất tốt nhưng khi đưa vào các bài toán thực tế tại Việt Nam lại gặp phải những hạn chế.
Tất nhiên, đi sâu hơn vào nghiên cứu hàn lâm, những công nghệ nền tảng và công nghệ lõi, sự kết nối chặt chẽ giữa doanh nghiệp và các trường đại học, viện nghiên cứu, cùng giải quyết những bài toán thực tiễn sẽ là yêu cầu quan trọng”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 34-2026 phát hành ngày 24/08/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-34-2026.html
Thị trường du lịch chăm sóc sức khỏe trên toàn cầu đang mở rộng nhanh chóng khi nhu cầu tìm kiếm những trải nghiệm giúp kiểm soát sự căng thẳng, cải thiện sức khỏe tổng thể và thúc đẩy lối sống lành mạnh tăng cao. Ngày càng nhiều du khách mong muốn khám phá những khu nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe độc đáo và sẵn sàng chi trả tương xứng. Hơn thế nữa, sự ra đời của các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (Machine Learning) và Internet vạn vật (IoT) đã tạo ra những tiến bộ lớn trong du lịch chăm sóc sức khỏe.
Các dịch vụ và công nghệ kỹ thuật cơ khí cho phép doanh nghiệp tích hợp vào quy trình vận hành những hệ thống tiết kiệm năng lượng, chiến lược bảo trì dự đoán và năng lực sản xuất thông minh. Khi các doanh nghiệp tìm kiếm cơ sở hạ tầng có khả năng mở rộng và sẵn sàng cho tương lai, ngành cơ khí ngày càng mang lại giá trị thiết thực.
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đặng Hồng Hạnh, Đồng sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành VNEEC, cho rằng bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp lý, Việt Nam cần sớm làm rõ quyền sở hữu tín chỉ carbon, xây dựng hệ thống đăng ký có khả năng kết nối với các thị trường quốc tế, đồng thời tăng cường năng lực cho doanh nghiệp và các bên tham gia. Đây là những điều kiện quan trọng để hình thành một thị trường carbon minh bạch, hiệu quả, góp phần thu hút nguồn lực cho chuyển đổi xanh và thực hiện các cam kết giảm phát thải của Việt Nam.
Trải qua gần ba thập kỷ kiên định chuyển mình từ nền tảng công nghiệp vững chãi đến hệ sinh thái đô thị nhân văn, hành trình của Tập đoàn Tân Đô (Tandogroup) và nhà phát triển Mai Bá Hương tại Lương Hòa (Tây Ninh) chính là minh chứng cho một tầm nhìn vượt thời gian, nơi niềm tin và giá trị thực được bồi đắp để đánh thức tương lai của cả một vùng đất.
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Sau nhiều năm ngừng hoạt động, xuống cấp và bỏ hoang, Trung tâm Hội nghị Hàm Rồng, phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa đang có bước chuyển mới khi được UBND tỉnh Thanh Hóa chuyển giao cho Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh quản lý, xử lý và khai thác...