Chia sẻ tại diễn đàn “Chuyển đổi kép - động lực cho tăng trưởng kinh tế: Góc nhìn từ chính sách đến thực tiễn" mới đây, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), cho biết dệt may Việt Nam là ngành sử dụng lao động lớn, với kim ngạch xuất khẩu đạt 45 - 46 tỷ USD trên hơn 130 thị trường.
Tuy nhiên, trên 90% các thị trường xuất khẩu chính của ngành đều là các thị trường với những yêu cầu rất khắt khe như, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN.
Ví dụ như thị trường Mỹ, nếu hàng hóa là hàng trung chuyển sẽ bị áp thuế đối ứng hơn 40%, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường này phải thực hiện chuyển đổi số và truy xuất được nguồn gốc.
Hay những cơ chế mới của Liên minh châu Âu như Chỉ thị Nghĩa vụ thẩm định tính bền vững của doanh nghiệp (CS3D), Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và hộ chiếu sản phẩm… đòi hỏi sản phẩm xuất khẩu phải đáp ứng để hàng hóa có thể đứng vững trên thị trường này.
Ngoài ra, theo số liệu từ UNEP (Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc), mỗi năm, ngành dệt may ước tính phải chịu trách nhiệm cho khoảng 8% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu do việc tiêu thụ quá mức các nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên. Sử dụng 93 tỷ m3 nước và là tác nhân của 500 nghìn tấn sợi siêu nhỏ thải vào đại dương, 92 triệu tấn rác thải ra môi trường.
Để giảm bớt tác động tới môi trường và thực hành kinh doanh có trách nhiệm, đáp ứng với những quy định ngày càng nghiêm ngặt hơn từ các thị trường quốc tế, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là con đường tất yếu.
Ông Cẩm cho biết nhiều doanh nghiệp dệt may lớn đã và đang làm rất tốt việc chuyển đổi kép. Mặc dù chưa có số liệu tổng hợp cụ thể, nhưng nhiều doanh nghiệp đã từng bước đo lường được lượng phát thải, tính toán được năng suất, số lượng lao động của quy trình, và ứng dụng các giải pháp chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để quản trị và quản lý doanh nghiệp.
Tuy nhiên, chuyển đổi kép với doanh nghiệp dệt may không hề đơn giản, đặc biệt khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thách thức và rào cản của các doanh nghiệp dệt may trong tiến trình chuyển đổi kép là chi phí. Việc đầu tư cho hạ tầng công nghệ, nguyên vật liệu xanh, đào tạo và chiêu mộ nhân tài vận hành hệ thống… đều là các khoản phí lớn.
Đặc biệt, thách thức làm thế nào để lan tỏa được làn sóng chuyển đổi kép ra toàn bộ chuỗi cung ứng thực sự là vô cùng khó khăn với doanh nghiệp dệt may.
Từ thực tế của doanh nghiệp, bà Phạm Bích Hồng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty May 10, chia sẻ: "Dù là doanh nghiệp quy mô lớn và có lịch sử lâu năm, nhưng trong quá trình theo đuổi hành trình chuyển đổi xanh và số, thì vốn và tín dụng xanh là rào cản lớn nhất.
Theo bà Hồng, đầu tư vào năng lượng tái tạo và tuần hoàn đòi hỏi tài chính lớn, trong khi tài chính xanh khó tiếp cận và thiếu rõ ràng, do đó rất cần có sự hỗ trợ từ Chính phủ.
Bên cạnh đó, việc tích hợp hệ thống sản xuất với logistics, hệ thống quản lý vận hành còn nhiều khó khăn. Đối với tiêu chuẩn ESG, hiện doanh nghiệp phải tuân thủ nhiều bộ tiêu chí khác nhau của các khách hàng quốc tế, điều này gây chi phí lớn cho doanh nghiệp.
Hơn nữa, tốc độ số hoá và xanh hoá nhanh hơn tốc độ đào tạo nguồn nhân lực, dẫn tới thiếu hụt nhân lực cho chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Để hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi kép, ông Cẩm cho rằng trước hết, cần hoàn thiện tiêu chuẩn về chuyển đổi xanh với các tiêu chí cụ thể. Tiếp đến, cần thay đổi nhận thức của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong nội bộ doanh nghiệp, một mặt, cần nỗ lực giảm mức tiêu thụ tài nguyên, hạn chế tác động tới môi trường và cân đối Net Zero ngay trong nội bộ doanh nghiệp; mặt khác, tìm kiếm các giải pháp để khép kín hơn nữa vòng lặp của quy trình sản xuất.
Nút thắt nguồn lực của doanh nghiệp trong chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là hạn chế lớn. Do đó, chúng ta phải đào tạo nhân lực số cho hệ sinh thái này.
"Chúng tôi đã kiến nghị đào tạo nguồn nhân lực cho các khâu như kỹ sư về công nghệ dệt nhuộm,… nhưng đến nay các trường chưa đào tạo được, vì vậy rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước”, ông Cẩm đề nghị.
Ngoài ra, Nhà nước cần hỗ trợ các thủ tục như cấp phép đầu tư, đánh giá tác động môi trường, phòng cháy, chữa cháy… Hay những vấn đề ảnh hưởng nguồn lực doanh nghiệp như hoàn thuế VAT cần được nhanh chóng xử lý.
Đồng tình, ông Nguyễn Đình Thắng, Phó Chủ tịch Hội tin học Việt Nam và Phó Chủ tịch hội doanh nhân tư nhân Việt Nam, cho rằng nếu muốn nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất thì việc đào tạo là yếu tố rất quan trọng.
“Tôi cũng đã nhiều lần đề xuất trực tiếp với các bộ, ban, ngành về công tác đào tạo, cần phải có chương trình rõ ràng, phương pháp cụ thể và đầu ra phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp”, ông Thắng bày tỏ.
Từ góc độ doanh nghiệp, bà Hồng nhấn mạnh: "Trước hết, cần cơ chế hỗ trợ tài chính xanh, các gói tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi. Tiếp đến, thể chế hoá và tiêu chuẩn hoá ESG quốc gia, hài hoà tối đa với tiêu chuẩn quốc tế để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp cũng như nâng sức cạnh tranh".
Bên cạnh đó, Chính phủ hỗ trợ đầu tư hạ tầng dữ liệu và đào tạo, có chính sách khuyến khích doanh nghiệp lớn xây dựng chia sẻ dữ liệu, cũng như có chính sách khuyến khích đào tạo nhân lực chất lượng cao cho chuyển đổi kép.




Trước Quy định chống mất rừng của EU (EUDR), ngành cao su Việt Nam đang chủ động chuyển dịch từ “chờ đợi” sang hành động quyết liệt. Việc đẩy mạnh chuẩn hóa vùng trồng và truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp vượt qua rào cản kỹ thuật mà còn là cơ hội để bứt phá giá trị tại thị trường EU.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu nhiều loại vật tư đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu thu hẹp, trong đó phân bón giảm gần 35%, thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 5,6%. Dù giá ngô và đậu tương thế giới hạ nhiệt, giá vật tư trong nước vẫn neo ở mức cao. Đáng chú ý, giá cám gạo nội địa tiếp tục tăng vì nguồn cung hạn chế…
Các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp có kinh nghiệm trong lĩnh vực điện mặt trời được mời tham gia xây dựng, triển khai các mô hình thí điểm điện mặt trời nông nghiệp (Agri-PV) tại Việt Nam. Hồ sơ đăng ký tham gia chương trình được tiếp nhận đến hết ngày 15/7/2026...
Một khu công nghiệp sinh thái thực chất phải được định hình ngay từ khâu quy hoạch, trước khi viên gạch đầu tiên được đặt xuống, chứ không phải "lớp sơn phủ" lên hạ tầng đã hoàn thiện...
Sự chia sẻ lớn hơn của chính sách tài khóa; các công cụ điều tiết, đảm bảo sự vận hành của thị trường, lưu thông hàng hóa; chính sách về an ninh năng lượng, dự trữ năng lượng... là những giải pháp được đề xuất để giảm áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm.
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Sự chia sẻ lớn hơn của chính sách tài khóa; các công cụ điều tiết, đảm bảo sự vận hành của thị trường, lưu thông hàng hóa; chính sách về an ninh năng lượng, dự trữ năng lượng... là những giải pháp được đề xuất để giảm áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm.